20. Họ Mai làng Đọ, Thiệu Khánh, Thiệu Hóa, Thanh Hóa

Theo lời kể của các cụ cao tuổi trong họ thì nguồn gốc họ Mai ở làng Đọ, xã Thiệu Khánh, huyện Thiệu Hoá, tỉnh Thanh Hoá: Tại bàn thờ tổ do ông Mai Trọng Lúa chi trưởng trông coi, có sắc phong của cụ tổ họ Mai và gia phả dòng họ. Sắc phong vào thời Lê – Trịnh, trong đó ghi rõ cụ là người rất được vua tin yêu, được phép ra vào cung cấm. Rất tiếc là do không có con trai, ông Mai Trọng Lúa đã oán giận tổ tiên rồi đốt mất sắc phong và gia phả. Đọc tiếp »

19. Họ Mai, Bồng Trung, Vĩnh Tân, Vĩnh Lộc

Anh em họ Mai ở Bồng Trung nay đã kết nối anh em với các nơi như sau:

* Họ Mai Xuân làng Hoàng Thố, xã Nga Bạch, Nga Sơn có nguồn gốc từ làng Bồng Trung, lần theo sông Lèn về trông coi Chùa Hoàng tại làng Hoàng Thổ và lập nghiệp ở đó từ năm 1856. Cụ khởi tổ là Mai Quý công, tự là Pháp Dung. Gia phả ở đây lập được 8 đời, do ông Mai Xuân Thiện chủ trì biên soạn (ĐT 0373 653421). Đọc tiếp »

18. Họ Mai Phú Nhi, Hưng Lộc, huyện Hậu Lộc

Thủy tổ Mai Phúc Hậu, sinh khoảng 1740, từ làng Mai La Đa (Hà Đông) về lập nghiệp tại thôn Phú Nhi đã được 13 đời, đến đời 6 chia ra các chi:

– Chi 1: Mai Phúc Thế;

– Chi 2: Mai Phúc Trung ở Thọ Xuân; Đọc tiếp »

17. Họ Mai Phúc Quang Lộc, Hậu Lộc, Thanh Hóa

Họ Mai Phúc ở xã Quang Lộc đã có từ lâu đời (1010). Cụ Mai Đình Bạch là người đầu tiên sinh ra dòng họ Mai tại làng Bạch Đầu tổng Sen Cừ (nay là xã Quang Lộc), qua một thiên niên kỷ con cháu cụ phát triển đông đúc và tỏa đi khắp đất nước.

Đọc tiếp »

16. Họ Mai Sĩ Nga Hải, Nga Sơn, Thanh Hóa

Họ Mai Sĩ từ xưa đã có tộc phả bằng chữ Hán, được dịch ra chữ quốc ngữ năm 1947.

Nhất Thế tổ Mai Quý công, thụy Yên Tâm. Cụ là người học rộng hiểu sâu được vào dạy học trong triều đình, là vị quan thanh liêm, được nhà vua ban cho tên họ Mai Sỹ; (chữ Sỹ có chữ Nhân đứng bên phải, chỉ người làm quan). Khi mãn quan cụ vào đất Cù Hải định cư và lập nghiệp. Ở đây cụ tổ chức dạy học cho con cháu và góp phần xây dựng quê hương. Từ thủy tổ đến nay phát triển được 10 đời, chia làm 5 chi. Họ Mai Sỹ xây dựng nhà thờ thờ phụng tổ tiên từ xưa, đặt tại xóm Trung Quần (nay là xóm Trung Tiến). Trải qua quá trình thăng trầm của lịch sử nước nhà, gia phả bị cháy, nhà thờ cũng bị tháo dỡ; may thay có cụ biết chữ Hán đã lấy lại được một phần bản tộc phả và đưa về cất giấu. Đọc tiếp »

15. Họ Mai làng Đông Thành,Nga Thành, Nga Sơn

Họ Mai Văn ở xóm Đông Thành, theo truyền khẩu có nguồn gốc từ Nghệ An nên lấy Mai Thúc Loan làm tiên tổ. Thủy tổ là cụ Mai Nhị Khê, không rõ thời gian đến định cư tại vùng đất này từ bao giờ.

Từ đời cụ khởi tổ Mai Nhị Khê ở làng Thành (nay là Nga Thành) đến đời ông Mai Viết Toản đã có gia phả, nhưng trong chiến tranh đã bị cháy nên sự tích không rõ, chỉ nghe truyền khẩu rằng: hai ông Văn Quốc công và Võ Quốc công thời hậu Lê là con cụ Mai Nhị Khê, mộ dân nghèo thành lập làng Nhân Sơn (nay thuộc xã Nga Phú), nhân dân ở đây đang thờ các ông. Các đời trước chưa rõ nên họ Mai ở Đông Thành tôn cụ Mai Viết Toản làm thủy tổ. Từ thủy tổ đến nay đã phát triển được 9 đời, chia làm 3 chi. Năm 1965, ông Mai Văn Cứ tộc trưởng di cư lên xã Nga Tiến đưa theo cả bát hương tổ tiên để thờ phụng trên đó.

Chúng tôi xin lược trích phả đồ như sau:

14. Họ Mai Văn Nga Nhân, Nga Sơn, Thanh Hóa

Họ Mai Văn ở xã Nga Nhân có nguồn gốc từ xã Nga Yên cùng huyện di cư vào cách nay 5 đời; tiên tổ tự Phúc Kiến ở Nga Yên sinh được 4 người con trai, có 3 người di cư đi nơi khác, trong đó một người đi xã Nga Thái, trai út là Mai Văn Khang đến xã Nga Nhân. Phả ký chưa lập được, chỉ lập được phả đồ. Chúng tôi xin lược trích như sau:

13. Họ Mai làng Mật Kỳ, Nga Trường, Nga Sơn

Họ Mai ở làng Mật Kỳ có nguồn gốc từ Hồng Kỳ – Nghệ An đến vào thời Lê Trung Hưng. Thủy tổ là Mai Đức Lương, sinh thời là thương gia, cụ đến làng Mật Kỳ, tổng Cao Vĩnh vào cuối thế kỷ thứ XVII,  trú tại xóm Cửa Cầy (nay là xóm 1 xã Nga Trường huyện Nga Sơn), thấy nơi đây phong thổ huy hoàng, dân làng yên vui, cụ Lương ở lại làm ăn và lấy vợ.

Từ thủy tổ phát triển đến nay được 14 đời, chia làm 2 chi.

Đời thứ 4, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 29 (1768) cụ Mai Đình Chiểu được vua Lê Hiển Tông phong làm Tri huyện Thúy Vân (Quỳ Châu, Nghệ An), sắc phong vẫn còn lưu giữ. Đọc tiếp »

12. Họ Mai Xuân Bắc Thành, Nga Thành, Nga Sơn

Gia phả họ Mai Xuân ở Bắc Thành không viết lời giới thiệu, nên không rõ nguồn gốc từ đâu đến; từ thủy tổ đến nay đã phát triển được 10 đời, chia thành 3 chi. Chúng tôi xin lược ghi 4 câu thơ và mô tả phả đồ như sau:

“Thập nhị lan can tiêu đề trụ,

Vạn thiên khí tượng tráng hoa tường”

“Chung cổ kiên tương đường thượng hạ,

Y quan chỉnh túc giới Đông Tây”

11. Họ Mai Chấn Trung Thành, Nga Thành, Nga Sơn

Họ Mai Chấn xã Nga Thành thuộc dòng dõi cụ Mai An Tiêm. Cụ thủy tổ về khai cơ lập ấp tại làng Thành (nay là xã Nga Thành) từ thời Lê Trung Hưng, cách đây khoảng 250 năm. Căn cứ vào năm sinh của cụ Mai Như Dư đời thứ 4 là năm Mậu Ngọ (1738), cùng với sự kiện anh ruột của cụ Dư nhập ngũ thời Lê Cảnh Hưng, thì cụ thủy tổ sinh khoảng năm 1655. Họ Mai Chấn có gia phả bằng chữ Hán từ thời Tự Đức thứ 15, do cháu đích tôn cụ Mai Chấn Triêu là ông Mai Chấn Hiển viết, đến chắt trọng tôn là ông Mai Chấn Trường đã tu chỉnh lại; năm 1950 ông Mai Chấn Long đã dịch ra chữ quốc ngữ; năm 1994 ông Mai Chấn Thắng chủ trì cùng anh em trong họ ghi tiếp.

Từ thủy tổ đến đời thứ 6 mang họ Mai Như. Con trưởng đời thứ 6 là cụ Mai Như Triệu, khi về hưu cụ đặt lại tên là Mai Chấn Triệu, từ đó về sau con cháu lại mang họ Mai Chấn. Cụ Mai Chấn Triêu cùng con (Chấn Lương, vợ chồng ông Chấn Giáo) cháu (Chấn Hổ) đã có công khai khẩn đất đai, lập các làng mới là Nhân Sơn, Yên Nghiệp nên được dân làng thờ phụng, nhà vua phong thần (Thành hoàng làng). Rất tiếc các sắc phong thần nay không lưu giữ được.

Họ Mai Chấn từ thủy tổ đến nay đã phát triển 13 đời, đến đời thứ 6 chia làm 5 chi.