I. THƯỢNG THỦY TỔ MAI AN TIÊM

Mai An Tiêm là một nhân vật truyền thuyết thời Hùng Vương, ông được vua tin yêu cho làm quan, trở nên phú quý. Sau vì làm phật ý vua, An Tiêm bị đày ra đảo hoang, tương truyền nay là vùng Nga Sơn, Thanh Hoá. Tại đây, An Tiêm cùng vợ chăm chỉ làm ăn, gây được giống dưa hấu quý, nhiều người tìm đến trao đổi, tiếng đồn khắp xa gần. Vua xuống chiếu gọi về cho phục chức cũ. An Tiêm được coi là ông tổ của nghề trồng dưa hấu ở Việt Nam.

Ngày nay, tại xã Nga Phú huyện Nga Sơn, có một dãy núi mang tên Mai An Tiêm, tương truyền chính là hòn đảo xưa kia vợ chồng An Tiêm đi đày. Dưới chân núi này có đền thờ ông và nhân dân địa phương tổ chức lễ hội vào ngày 12 đến 14 tháng 3 âm lịch hàng năm.

1. Theo Lĩnh Nam Trích Quái (tác giả Dũng Lạc)
KINH AN TIÊM TRỒNG DƯA HẤU
63. Ngày xưa, đời Hùng Vương có một người tên là Mai An Tiêm, người ngoại quốc, mới được bảy tuổi, do thuyền buôn chở đến. Vương mua về làm đầy tớ, kịp lúc lớn lên thì diện mạo đoan chính, nhớ biết nhiều việc.

64. Vương đặt tên là Yển, tên chữ là An Tiêm và cho một người thiếp, sinh được một trai, Vương yêu dùng để sai bảo, dần dần Yển thành phú quý, ai cũng qúy phục, và chen nhau đến dâng lễ vật không thức gì là không có; Yển sinh ra kiêu mạn, thường tự bảo rằng:
– Của cải này là vật tiền thân của ta, ta không từng trông nhờ vào ơn chúa.

65. Hùng Vương nghe được, cả giận nói rằng:
– Làm thần tử mà nó không biết ơn chúa, sinh ra kiêu mạn, nói rằng của cải đều là vật tiền thân của nó. Bây giờ ta đem bỏ nó ra ngòai biển, ra cái chỗ không người ấy coi thử nó có còn cái vật tiền thân của nó nữa hay không?

66. Bèn đày Mai Yển ra ngoài bãi cát của biển Nga Sơn, tứ phía không có dấu chân người đi đến, chỉ để cho lương thực đủ dùng trong bốn năm tháng mà thôi, ăn hết là chết đói. Chị vợ khóc, bảo rằng ta chắc chết ở đây không lấy gì sống được. Tiêm nói:
– Trời đã sinh thì trời phải dưỡng, có lo gì?

67. Ở chưa bao lâu, đương lúc tháng tư, bỗng thấy một con bạch hạc từ phương tây bay lại, đậu lên mỏm núi cao, kêu lên ba bốn tiếng thì sáu bảy hạt dưa rơi trên mặt cát, đâm chồi nẩy lộc, lan trên cát, xanh tốt rườm rà, rồi kết thành trái dưa, nhiều không kể xiết.

68. An Tiêm mừng rỡ nói:
– Đây đâu phải quái vật, đó là trời cho để nuôi ta đó.
Bổ dưa ra ăn thì mùi vị thơm tho ngọt ngào, ăn vào thì tinh thần khỏe khoắn, rồi cứ mỗi năm trỉa thêm, ăn không hết thì đem đổi lấy lúa gạo nuôi vợ con. Nhưng không biết dưa ấy tên là gì, mới nhân chim tha từ phương tây đem đến nên đặt tên là Tây qua.

69. Những khách chài lưới, buôn bán, ưa mùi vị của nó đều đem phẩm vật của mình để đổi lấy dưa. Nhân dân xa gần, trên rừng dưới bến tranh nhau mua hạt, bắt chước trồng tỉa khắp bốn phương; dân gian suy tôn An Tiêm làm “Tây Qua phụ mẫu”.

70. Lâu ngày, Vương nhớ đến An Tiêm, sai người đến chỗ An Tiêm ở hỏi thăm có còn sống hay không. Người ấy về tâu lại với Vương. Vương than thở hồi lâu mới nói rằng:
– Nó bảo là vật tiền thân của nó, thực là không nói dối vậy.
Vương bèn triệu An Tiêm về, trả quan chức lại và cho tỳ thiếp, đặt tên chỗ An Tiêm ở là “An Tiêm Sa Châu”; thôn ấy gọi là Mai An, đến nay còn lấy tây qua(dưa hấu) tôn phụng tổ khảo mà tế tự, là khởi từ An Tiêm vậy.

2. Theo nguồn gốc đất Việt (tác giả Nguyễn Đổng Chi)
Ngày xưa có một người trẻ tuổi tên là Mai An Tiêm. Chàng là người ở một nước đâu tận vùng biển phía Nam, bị bọn lái buôn chở đến bán cho Hùng Vương. Mai An Tiêm học nói tiếng Việt rất chóng. Chàng nhớ nhiều chuyện, biết nhiều điều thường thức, lại lắm tài nghề. Càng ngày vua càng yêu dấu, không lúc nào rời. Năm ba mươi lăm tuổi, chàng làm quan hầu cận, có một ngôi nhà riêng ở gần cung vua. Vợ Mai là con gái nuôi của vua đã sinh được một trai lên năm tuổi. Mai có đủ mọi người hầu hạ, trong nhà của ngon vật lạ không thiếu thứ gì.

Tuy oai quyền không lớn lắm nhưng chàng được mọi người sợ phục. Nhiều kẻ vẫn thường lui tới cầu cạnh. Nhưng thấy Mai có địa vị cao, cũng không hiếm gì những kẻ sinh lòng ghen ghét. Một hôm, trong một bữa tiệc đãi các quan khách, giữa lúc mọi người không ngớt lời xưng tụng mình, Mai An Tiêm nhún nhường bảo họ:
– Có gì đâu! Tất cả mọi thứ trong nhà này đều là vật tiền thân của tôi cả! Mai nói rất tự nhiên. Bởi vì tôn giáo xứ sở chàng bảo rằng cái sướng cái khổ hiện tại là kết quả của sự ăn ở tốt hay xấu của tiền kiếp. Nhưng trong số người dự tiệc có mấy viên quan hầu gần vua, vốn ghét chàng từ lâu. Chụp lấy câu nói mà họ cho là ngạo mạn đó, họ bèn vội vàng về tâu cho vua biết. Vua Hùng nghe nói vô cùng giận dữ, liền quát:
– Chà! Thằng láo! Hôm nay nó nói thế, ngày mai nó còn tuôn ra những lời bất kính đến đâu. Buổi chiều hôm ấy, Mai bị bắt bỏ vào ngục tối. Bấy giờ chàng mới hiểu chàng lỡ lời. Mai tự bảo: “Nếu từ nay trở đi ta bị đày đọa là vì kiếp trước ta đã cư xử không phải”.

Trong khi đó thì ở triều, các quan họp bàn để xử án Mai. Nhiều người đề nghị xử tử, có người đề nghị cắt gót chân. Nhưng lời tâu của một ông quan già làm cho Hùng Vương chú ý:
Hắn bị tội chết là đúng. Nhưng trước khi hắn chết, ta nên bắt hắn phải nhận ra một cách thấm thía rằng những của cải của hắn đây là do ơn trời biển của Bệ hạ, chứ chả phải là vật tiền thân nào cả. Tôi nghe ngoài cửa Nga Sơn có một hòn đảo. Cho hắn ra đấy với một hai tháng lương để hắn ngồi ngẫm nghĩ về “vật tiền thân” của hắn trước khi tắt thở.
Vua Hùng gật đầu chấp thuận. Nhưng sau khi ra lệnh, vua còn dặn: “Cho hắn lương vừa đủ dùng trong một mùa, nghe không”.

* * *
Hôm đi đày, tuy ai nấy hết lời can ngăn nhưng vợ Mai An Tiêm vẫn nhất quyết theo chồng ra hải đảo. Nàng bồng cả con trai đi theo. Tất cả mọi người đều cho là việc rồ dại. Còn nàng thì tin ở lời chồng: “Trời sinh voi trời sinh cỏ. Lo gì!”. Nhưng khi bước chân lên bãi cát hoang vu mịt mù, người thiếu phụ đó cũng không ngăn nổi cảm giác tủi thân, nức nở gục vào vai chồng:
– Chúng ta đành chết mất ở đây thôi.
Mai ôm con, bảo vợ:
– Trời luôn luôn có con mắt. Cứ phấn chấn lên. Đừng lo!
Hơn một tháng đầu, đời sống của vợ chồng đã tạm ổn. Nhà ở thì chui trong hang đá đã được đan phên che sương gió. Nước uống thì đã có nước suối. Muối không có thì đã có nước biển. Nhưng còn việc kéo dài sự sống? Hai vợ chồng nhìn vào bồ gạo đã vơi: “Nếu chúng ta có được một nắm hạt giống thì quyết không lo ngại gì cả”. Tự nhiên, một hôm có một đàn chim lớn bay từ phương Tây lại, đậu đen cả một bãi cát, rồi chúng bay đến trước mặt hai vợ chồng kêu váng cả lên, thả xuống năm sáu hạt. Ít lâu sau từ những hạt ấy mọc ra một loại cây dây bò lan xanh um cả bãi. Dây bò đến đâu, những quả xanh non mơn mởn nhú ra đến đấy. Ít lâu sau nữa, vợ chồng ra xem thì quả nào quả ấy đã lớn lên như thổi, da xanh mượt, tròn to bằng đầu người. Mai trẩy một quả, bổ ra thấy ruột đỏ hồng, hạt đen nhánh. Vợ chồng con cái cùng nếm thấy vị thanh thanh dịu ngọt, ăn vào mát đến ruột gan. Mai reo lên:
– Ồ! Đây là thứ dưa lạ, chưa từng thấy bao giờ. Hãy gọi nó là dưa Tây,vì thứ dưa này được bầy chim đưa từ phương Tây lại, từ đất liền ra cho chúng ta, Trời nuôi sống chúng ta rồi!

Từ hôm đó hai vợ chồng cố trồng thêm cho thật nhiều dưa. Họ trù tính ăn dưa thay cơm để đỡ phải dùng số gạo đã gần kiệt. Một hôm vợ chồng Mai bắt gặp một chiếc thuyền đánh cá đi lạc ra đảo. Sau khi giúp họ sửa buồm lái để trở về đất liền, Mai còn đưa biếu một số dưa để họ đưa về cho mọi người nếm thử. Mai bảo họ chở gạo ra đổi lấy dưa. Chỉ cách mấy ngày, con thuyền thứ nhất đã đến cắm neo ở bến, chở ra cho hai vợ chồng khá nhiều gạo. Hai bên y ước: một bên nhận lấy số gạo còn một bên xếp dưa xuống thuyền. Từ đó trở đi, bữa ăn của họ đã khác trước. Ngồi bên nồi cơm trắng, vợ Mai ôm lấy con, lẩm bẩm: “Trời nuôi sống chúng ta thực!”. Cũng từ hôm đó, vợ chồng trồng thêm nhiều dưa nữa. Kết quả là thuyền buôn có, thuyền chài có, lũ lượt ra đỗ ở hải đảo đưa gạo, áo quần, gà lợn, dao búa, lại có cả các thứ hạt giống khác để đổi lấy dưa. Những người trong thuyền nói với Mai:
-Thật quả từ xưa chưa hề có loại dưa nào quý đến thế, ở vùng chúng tôi ai cũng ao ước được nếm một miếng thứ “dưa hấu” này dù có phải đổi bao nhiêu gạo cũng không tiếc. Ngày ấy người ta tranh nhau mua dưa lấy giống cho nên chỉ trong vài ba năm giống dưa lan tràn khắp nơi. Tên tuổi vợ chồng Mai An Tiêm được truyền đi xa rộng, dân tôn ông là “Tổ Dưa Hấu”.

* * *
Lại nói chuyện Vua Hùng một hôm la rầy viên quan hầu để thợ dựng hỏng một ngôi nhà. Vua buột miệng than thở: “Phải chi có Mai An Tiêm thì đâu đến nỗi”. Ngày hôm đó vua nhắc mãi đến chàng, cho hỏi Lạc hầu xem hiện giờ Mai đang làm gì ở đâu. Lạc hầu đáp liều: “Chắc hắn không còn nữa!”. Nhưng vua không tin, vua sai ngay một tên nô khác vào châu Ái tìm Mai An Tiêm. Một tháng sau, hắn ta mang về cho vua một thuyền đầy dưa hấu và nói:
– Đây là lễ vật của ông bà Mai dâng bệ hạ. Hắn kể cho vua biết rõ những ngày cực khổ và tình trạng hiện nay của hai vợ chồng Mai, rồi tâu:
– Bây giờ ông bà Mai đã có nhà cửa ở ngoài ấy khá đẹp, có đến hơn mười người hầu hạ, có bãi dưa, có ruộng lúa và rất nhiều lợn gà…
Vua Hùng càng nghe càng sửng sốt và bảo mấy viên quan hầu cận ngày nọ đã tố cáo Mai:
– Hắn bảo là vật tiền thân của hắn, thật đúng chứ không sai!

Vua bèn sai một đoàn lính hầu đi đón hai vợ chồng về, cho Mai trở lại chức cũ. Vua lại ban cho hai người con gái hầu để an ủi chàng. Bây giờ chỗ hải đảo, người ta còn gọi là bãi An Tiêm. Những người kế tiếp công việc của hai vợ chồng Mai trên đảo vẫn còn dòng dõi đông đúc. Họ lập thành làng gọi là làng Mai An, ở ngôi nhà cũ của Mai thì họ lập đền thờ hai vợ chồng chàng. Nhân dân gọi ông bà là “Tổ Dưa Hấu”.

3. Theo truyện kể trong dân gian
Thời vua Hùng Vương thứ 18, Mai Yển – hiệu An Tiêm, nguyên Thượng thư Lại Bộ, do có nhiều công trạng nên được nhà vua rất yêu mến và gả con gái cho. Cứ mỗi lần có lễ trọng, vua đều ban quà cho phò mã; thay vì cảm ơn vua cha thì Mai Yển lại nói: “Của biếu là của lo, của cho là của nợ”. Vua buồn bực lắm, bọn nịnh thần được dịp nói xấu Mai Yển; vua ra lệnh bắt Mai Yển cùng vợ con đày ra đảo hoang. Nhờ có loài quạ tha quả về ăn, Mai Yển đã đuổi quạ đi và ăn thử thấy ngon ngọt lạ thường bèn đem hạt gieo, mùa đầu đã cho nhiều quả và thứ quả đó đã nuôi sống gia đình Mai Yển, sau này người ta gọi đó là quả dưa hấu. Vụ này tiếp nối vụ kia, dưa hấu ngày càng nhiều, gia đình Mai Yển dùng không hết. Mai Yển liền nghĩ cách, khắc chữ vào vỏ quả, bỏ xuống biển, thủy triều đã đẩy những quả dưa vào bờ, quan quân thấy vậy liền tâu lên nhà vua, mọi người cùng ăn và vui mừng khen ngon. Vua biết Mai Yển và vợ con không chết mà còn nhớ đến nhà vua, tìm cách dâng quả ngon, vua liền ra lệnh đưa Mai Yển về đất liền để phong lại chức tước…
Hiện chỗ gia đình ông sống nơi đảo xa người ta vẫn còn gọi là bãi An Tiêm, núi An Tiêm, hang An Tiêm, nhà cũ được lập đền thờ An Tiêm, bãi xưa thành làng Mai An. Giống dưa quý ruột đỏ ấy gọi là dưa đỏ, sau này gọi là dưa hấu.

4. Đền thờ Mai An Tiêm
Để tưởng nhớ người có công khai phá mở mang bờ cõi từ buổi bình minh của đất nước, thủy tổ của nghề canh nông, nhân dân đã xây dựng đền thờ Mai An Tiêm tại ngôi nhà cũ. Hàng năm, vào ngày 12 đến 14 tháng 3 âm lịch, tại đền thờ Mai An Tiêm, ở xã Nga Phú huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa, cách huyện lỵ Nga Sơn 5 km về phía Đông Bắc, nơi được coi là đất Tổ họ Mai Việt Nam, chính quyền và nhân dân địa phương thường tổ chức lễ hội để tưởng nhớ, tri ân Mai An Tiêm – người tượng trưng sức sống mãnh liệt của dân tộc ta trong buổi đầu dựng nước.

Vào năm Duy Tân thứ nhất, vua sắc cho thôn Ngoại, huyện Nga Sơn thờ phụng và phong thần:
MAI YỂN HIỆU AN TIÊM
DỰC BẢO TRUNG HƯNG LINH PHÙ CHI THẦN
Đến năm Khải Định tứ 9, vua gia phong:
ĐOAN TÚC TÔN THẦN
sắc cho thôn Ngoại tiếp tục thờ phụng:
ĐẶC BIỆT CHUẨN PHONG CHO PHÉP
PHỤNG THỜ THEO LỄ QUỐC KHÁNH

Trong bốn sắc phong cổ, có ba sắc phong màu vàng sẫm, chiều dài khoảng 1,5 m, chiều rộng 50 cm. Sắc phong còn lại màu trắng nhạt, chiều dài khoảng 50 cm, chiều rộng 50 cm. Các sắc phong có ghi chữ Nho màu đen, sắc nét và in hình rồng, phượng.
Hằng năm, cứ đến ngày 12, 13,14/3 âm lịch, địa phương đem ra đọc nhân dịp khai mạc lễ hội Mai An Tiêm.
Năm 1989, UBND tỉnh Thanh Hóa đã cấp bằng công nhận đền thờ Mai An Tiêm là Di tích lịch sử – văn hóa.

5. Nga Sơn – đất tổ họ Mai Việt Nam
Huyện Nga Sơn nằm ở phía đông bắc tỉnh Thanh Hóa và cách thành phố Thanh Hóa khoảng 42 km, phía bắc và đông giáp tỉnh Ninh Bình và thị xã Bỉm Sơn, phía tây giáp huyện Hà Trung, phía nam giáp huyện Hậu Lộc. Địa hình đồng bằng, thoải từ dãy núi Tam Điệp từ bắc xuống nam, phía đông giáp biển. Sông Lèn chảy qua. Huyện có bờ biển dài 20 km và hàng năm Nga Sơn lấn ra biển từ 80 đến 100 m do phù sa bồi đắp của sông Hồng và sông Ðáy. Đảo Mai An Tiêm ngày xưa do bồi lắng đã nối với đất liền thành Nga Sơn ngày nay. Diện tích tự nhiên của huyện là 144,95 km², số dân 142.526 người, huyện lỵ là thị trấn Nga Sơn.

Từ Hà Nội, theo quốc lộ 1A vào đến địa phận huyện Hà Trung, rẽ trái khoảng 30km, thì tới cầu Điền Hộ, thuộc xã Nga Điền, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá, du khách sẽ được tham quan toàn cảnh các di tích nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam, với núi sông trùng điệp, hùng vĩ.
– Đền thờ Mai An Tiêm thuộc xã Nga Phú, huyện Nga Sơn, cách huyện lỵ Nga Sơn 5km về phía Đông Bắc.

Ngôi đền nhỏ, đơn sơ nép mình bên sườn núi, nhưng chứa đựng cả một huyền thoại đẹp được lưu truyền từ bao đời nay. Mai An Tiêm là người có công khai phá xây dựng đất Nga Sơn từ buổi bình minh của đất nước, dưa hấu Mai An Tiêm là sản vật rất nổi tiếng ở Nga Sơn. Hàng năm lễ hội Mai An Tiêm diễn ra tưng bừng náo nhiệt từ 12 – 14 tháng 3 âm lịch.
– Cửa Thần Phù: theo truyền thuyết vua Trần dẹp giặc phương Nam, đến đây sóng to gió lớn không tiến lên được, nhờ có một đạo sĩ La Viện người địa phương dẫn đường nên mới thoát hiểm. Thắng giặc trở về, La Viện đã mất, vua cho lập miếu thờ và phong là Áp Lãng Chân Nhân Tôn Thần.

Núi non, sông nước tạo cho nơi đây thắng cảnh hùng vĩ nên thơ. Rẽ sang nhánh sông Hoạt, ta gặp động Lục Vân, nơi đây chúa Trịnh Sâm đã đến viếng thăm, bút tích còn lưu lại là 4 bài thơ ghi trên vách đá. Bia chữ thần trên vách đá cạnh bờ sông Hoạt là bút tích của chúa Trịnh Sâm (khắc năm 1771). Đi một quãng nữa tới động Bạch Ác, một động đẹp có chùa Phật ở trong, xưa kia nhiều vua, chúa đã tới thăm quan và để lại nhiều bút tích là các bài thơ được khắc trên vách đá.

– Chùa Tiên: thuộc xã Nga An huyện Nga Sơn được xây dựng trên diện tích rộng 3,5 ha, cảnh quan đẹp, hấp dẫn và yên tĩnh. Đây là nơi để du khách có thể thăm quan, chiêm ngưỡng và chiêm nghiệm những giáo lý của nhà Phật đối với chúng sinh.
– Động Từ Thức: thuộc xã Nga Thiện, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, trước đây được gọi là động Bích Đào, sau được đổi tên là động Từ Thức vì theo truyền thuyết động này gắn với câu chuyện “Từ Thức gặp tiên” được lưu truyền rộng rãi trong dân gian. Động Từ Thức rất đẹp và gồm có hai động. Động ngoài hẹp, sáng sủa, có miếu Sơn Thần và có bài thơ của Lê Quí Đôn khắc vào đá. Động trong rộng hơn và có nhiều cảnh trí tuyệt đẹp. Dưới ánh đuốc, thạch nhũ muôn hình vạn trạng lóng lánh sắc màu được nhân hoá thành một thế giới gần gũi với đời sống như “cây bạc”, “cây vàng”, “ao bèo”, “rồng ấp trứng”. Đi sâu vào nữa lại có cả giá chiêng, giá trống, phường bát âm, bàn cờ tiên… Trong động có “đường lên trời” và lối “xuống lòng đất”. Động Từ Thức không những là một danh thắng mà còn là một di tích lịch sử trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

– Di tích lịch sử Chiến khu Ba Đình: đây là di tích lịch sử đã được xếp hạng cấp quốc gia. Với lòng yêu nước và tinh thần quả cảm, chỉ với những vũ khí thô sơ mà tại đây nghĩa quân Cần Vương và nhân dân ba làng là làng Mậu, làng Thượng, làng Mỹ Khê đã dũng cảm đánh bại nhiều đợt tấn công của giặc Pháp xâm lược.
Hướng đến Đại lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội, chiều ngày 25/4/2010 (tức ngày 12/3 năm Canh Dần), tại đền thờ Mai An Tiêm, xã Nga Phú, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch Thanh Hóa phối hợp với UBND huyện Nga Sơn long trọng tổ chức lễ hội Mai An Tiêm.

Tham dự lễ hội có các đồng chí: Mai Ái Trực, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường; Lê Ngọc Hân, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh; Mai Văn Ninh, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; Hồ Mẫu Ngoạt, Phó Bí thư Tỉnh ủy; các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thường trực HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ tỉnh; lãnh đạo các ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh; lãnh đạo huyện Nga Sơn cùng đông đảo cán bộ, nhân dân và du khách thập phương.
Trước khi tiến hành buổi lễ, các đồng chí lãnh đạo tỉnh, các đại biểu đã dâng hương tưởng nhớ Mai An Tiêm, một biểu tượng về tinh thần vượt khó, cần cù, sáng tạo trong lao động.

Tiếp theo là lễ khởi công tu bổ, tôn tạo Điện thờ Mai An Tiêm. Đồng chí Lê Ngọc Hân, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh, đánh trống khai hội.
Lễ hội Mai An Tiêm diễn ra từ ngày 12-14 tháng 3 (âm lịch) với nhiều hoạt động đặc sắc như rước kiệu, dâng hương, lễ tế, thi nấu cơm, ném lao, nhẩy dây, kéo co, thi leo núi hái lượm, hội trại, biểu diễn ca nhạc.

Phần hội phong phú, hoành tráng với sự tham gia của hơn 200 diễn viên các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp của tỉnh và hàng ngàn diễn viên không chuyên được huy động tại địa phương và đoàn lễ nghi họ Mai các nơi về dự. Màn nghệ thuật sân khấu gồm 3 phần có ý nghĩa sâu sắc, tái hiện lại cảnh Mai An Tiêm bị khép tội phản nghịch cùng gia đình bị đày ra đảo xa…; cảnh Mai An Tiêm gắn với sự tích quả dưa hấu, được vua minh oan, gia đình đoàn viên…; tri ân Mai An Tiêm – người có công mở mang bờ cõi, thủy tổ nghề canh nông…

Lễ hội Mai An Tiêm – một lễ hội văn hóa, lịch sử giàu truyền thống, tưởng nhớ công ơn của các bậc tiền bối đã có công gây dựng, gìn giữ và bảo vệ non sông đất nước. Lễ hội cũng là dịp để các thế hệ con cháu tri ân, đồng thời, tiếp nối truyền thống lịch sử vẻ vang của cha ông, tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết toàn dân tộc, khai thác mạnh mẽ tiềm năng, thế mạnh, góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước…

Chiều 25/4/2010, lãnh đạo UBND tỉnh Thanh Hóa đã làm lễ khởi công công trình xây dựng “Bảo tồn, tôn tạo di tích lịch sử đền thờ Mai An Tiêm” tại xã Nga Phú huyện Nga Sơn. Diện tích tổng thể quy hoạch và quản lý khu di tích là 66,4 ha gồm: khu vực đền thờ, bãi trồng dưa, núi, hang động và mặt nước. Công trình được xây dựng trong hai giai đoạn: giai đoạn 1 trong năm 2010 bao gồm các hạng mục chính là điện thờ Mai An Tiêm, trụ sở quản lý di tích, cổng và tường rào bảo vệ khu điện thờ Mai An Tiêm và tu bổ tôn tạo tiếp điện thờ Mẫu. Giai đoạn 2 (sau năm 2010) sẽ thực hiện các hạng mục còn lại khi có điều kiện về vốn.

Vốn đầu tư trong giai đoạn một là 13.267 triệu đồng (trong đó vốn đầu tư của tỉnh là 11.109 triệu đồng. Số vốn còn lại do địa phương tự vận động). Tổng kinh phí tu bổ là 45 tỷ đồng.

6. VĂN TẾ MAI AN TIÊM

Nước có nguồn, cây có gốc,
Uống nước trong nhớ nguồn chảy từ đâu?
Ăn quả ngọt biết công ai khó nhọc?
Đó chính là truyền thống nhân văn,
Đó cũng chính là tự hào dân tộc.

Nhớ Ngài xưa:
Dòng dõi các vua Hùng,
Tư chất thông minh ngay từ thưở nhỏ.
Tin sức mình nuôi chí tự cường,
Chống quan tham, ghét quân nịnh bợ.
Câu nói xưa còn vang:
“Của biếu là của lo, của cho là của nợ”.
Phật ý vua cha, lệnh đày biệt xứ !

Đây đảo hoang nước biển mênh mông,
Kia rừng rậm hãi hùng tiếng hổ.
Tất cả trông vào ba tháng lương ăn,
Một chiếc rìu cùn, một hòn đá lửa.

Tin đôi tay ắt sẽ vượt qua,
Sẵn ý chí nào đâu có sợ.
Lượm trái cây lót dạ qua ngày,
Bẫy thú rừng lần hồi qua bữa.

Bỗng một hôm, thấy lũ chim trời,
Đang tranh ăn một loài quả lạ,
Vỏ xanh thẫm, ruột đỏ tươi.
Đuổi chim đi, lấy hạt gieo trồng,
Kỳ trái chín ăn vào mát rượi.

Ngày ngày sức lực tăng cường,
Tháng, năm khó khăn đã vợi.
Khắc tên vào quả, thả xuống biển khơi,
Tấp nập thuyền buôn ghé vào mua, đổi.

Quả ngon, trái ngọt, dâng tiến vua Hùng.
Thấu hiểu ngọn ngành vua cha liền vội,
Cho thuyền vượt cửa Thần Phù,
Nhắm hướng đảo hoang thẳng tới.
Đón An Tiêm về đất Phong Châu,
Quân xiểm nịnh thảy đều chịu tội.
Vua truyền: Dưa đỏ trồng khắp nơi nơi.
Nức tiếng ngọt, ngon ngàn đời ca ngợi.

Đảo hoang xưa, nay đã thành vùng quê đổi mới,
Nhân dân Nga Sơn sinh cơ từ thuở ban đầu,
Kế mấy nghìn năm có lẻ.
Bao phen vật đổi sao dời,
Mấy độ nương dâu bãi bể,
Như cây đại thụ xanh tốt ngọn cành,
Mấy trận cuồng phong vững bền gốc rễ.
Bởi Nga Sơn ta:
Giàu truyền thống vượt khó cần cù,
Sẵn tinh thần muôn người một ý.
Theo Cách mạng phản đế, bài phong,
Giữ quê hương, diệt Tây, đánh Mỹ.
Góp mồ hôi lấn biển, khai bồi,
Hiến nhân tài nâng cao dân trí.

Vinh dự nào hơn: Danh hiệu Anh hùng,
Phấn khởi nào bằng: Huân chương cao quý.
Nay mừng Lễ hội, rực rỡ cờ hoa,
Rộn rã tiếng ca, vang lừng chiêng, trống.
Ngước trông lên:
Hương trầm nghi ngút, cho dạ cảm hoài,
Nến tỏa lung linh để lòng ngưỡng vọng.
Nguyện với tiền nhân:
Xin đáp đền đức cả ơn cao,
Cho tỏ hết tình sâu nghĩa rộng.
Quyết một lòng xây dựng quê hương,
Cùng gắng sức nâng cao cuộc sống.
Giữ lấy nền văn hiến ngàn năm,
Phát huy mãi Nga Sơn truyền thống.
Nay ngày giỗ Tổ, con cháu đồng lòng,
Lễ mọn thành tâm, Kính dâng,…… Thượng hưởng….

(Hoàng Tình –
Ban Văn hóa xã Nga Phú)

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: