IV. HỌ MAI VIỆT NAM

1. Họ Mai là họ “nội sinh

Họ Mai Việt Nam là một trong các họ có sớm nhất trong Trăm họ nước Việt, từ đời Hùng Duệ vương(TK-III-TCN), trước khi nhà Hán sang đô hộ, trước khi hình thành nhà Trần, có Thượng thuỷ tổ là Mai Yển tự An Tiêm, trên đất tổ Nga Sơn.

Ngay chữ Mai của ta khác với chữ Mai của Trung Hoa, tổ tiên ta đã muốn khẳng định sự khác biệt về nguồn gốc rồi, muốn cho con cháu biết họ Mai ViệtNamhình thành và phát triển trên mảnh đất ViệtNam.

Trong ban thờ Trăm họ Việt Nam tại Lạc cảnh Đại Nam Văn hiến ở Bình Dương có tổng kết ở Việt nam có 1060 họ, họ Mai đứng thứ 575. Thứ tự đó là xếp theo vần abc… hiện tại, thực ra từ khi mẹ Âu Cơ sinh ra Trăm trứng (Bách tính) thì họ Mai cũng được xếp hạng trong con số 100.

2. Mai An Tiêm đại diện cho văn hóa họ Mai

Mai An Tiêm là tổ của họ Mai, là người đã khai phá ra đất Nga Sơn ngày nay. Nét đẹp của Mai An Tiêm rất hiếm thấy ở nhiều nhân vật văn hóa khác. 

Trước hết là ở ý thức về bản thân mình: tin tưởng về khả năng của mình có thể tự tạo dựng nên cuộc sống, tinh thần tự lập, cần cù lao động, sống tự cung tự cấp.                 

Mai An Tiêm còn có công khai phá ra được một vùng quê mới, vùng đất ấy là một đảo hoang.

Quá trình làm cho miền sương cát mù khơi này biến thành xóm làng trù phú xanh tươi là một quá trình khai phá, chống mặn chống phèn vô cùng gian khổ.

Đặc biệt là vợ chồng An Tiêm đã tạo nên được sự giao lưu thông thương trên biển cả. Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, chỉ có hai câu chuyện cho ta một số tín hiệu về việc đổi chác hàng hóa, thông thương bằng con đường biển, đó là chuyện vợ chồng Chử Đồng Tử và vợ chồng Mai An Tiêm. Rõ ràng hai cặp vợ chồng này đã là những anh hùng văn hóa sớm nhất của đất nước ta trong lĩnh vực này, họ là biểu tượng đẹp đẽ và đầy ý nghĩa. Trong đó vợ chồng Chử Đồng Tử còn có sự trợ giúp của Phật và Tiên, còn vợ chồng Mai An Tiêm thì chỉ có bàn tay khối óc của mình.

Qua truyện “sự tích Dưa Hấu” có thể rút ra những đặc điểm văn hoá họ Mai:

– Tự tin về khả năng của mình có thể tự tạo nên cuộc sống, không cầu cạnh dựa bóng một ai mặc dù là Phò mã. 

– Tự tin rằng mọi của cải của ta là do bản thân ta tạo dựng, đó mới là của cải bền vững và không phải lo giả nợ ai.

– Sống trung thực không bè phái và chống lại những quan tham và những  kẻ cơ hội xu nịnh.

Việc Mai An Tiêm bị đi đày là do vu cáo của bọn nịnh thần. Câu “Của biếu là của lo, của cho là của nợ” của Mai An Tiêm để nhắc mọi người rằng của cải do lao động tạo ra mới là bền vững. Chúng đặt ra câu “Của cải này là vật tiền thân của ta, ta không từng trông nhờ vào ơn chúa” để làm hại trung thần mà thôi.          

– Sẵn sàng cống hiến cho việc khai sơn phá thạch mở mang bờ cõi, xây dựng non sông đất nước.

Trước đây nhiều họ vẫn truyền tụng rằng “Văn+Mộc=Mai”, một số người lại bảo là “Mộc + Mỗi”, chữ Mai (hoa) là của họ Mai người Trung Hoa.

Thực tế trong gia phả cũng như trong các bức chữ lớn của nhà thờ họ Mai hiện nay, sử dụng chữ Mai như hình vẽ: bên phải là bộ “rìu”(theo trực quan của chúng tôi, đây là rìu Việt), bên trái là bộ mộc.

Là con cháu họ Mai, chúng tôi thấy chữ Mai đang dùng trong các nhà thờ họ chứa đựng những nội dung văn hóa cao đẹp của gia tộc:Rìu là công cụ lao động thiết yếu ngày xưa, nó giúp con người có thể tồn tại được trong khu rừng hoang. Nhờ có chiếc rìu, con người mới tạo ra “bùi nhùi” để nhóm được lửa, làm được nhà, tạo ra cung tên để săn bắt, xua đuổi được thú dữ, chống lại kẻ thù, chế ra thuyền bè… Chiếc rìu đã đồng hành cùng tổ tiên ta trong cuộc sống, nó tượng trưng cho sự khai phá. Ở đây chính là cuộc chinh phục thế giới tự nhiên của con người, trong cuộc đấu tranh sinh tồn ấy, con người đã chiến thắng, không những sống sót mà còn trở nên mạnh mẽ hơn, khỏe khoắn hơn, kiên cường hơn, hiểu biết hơn. Chiếc rìu lúc này còn tượng trưng cho sức mạnh và lòng quả cảm luôn tồn tại trong bản thân con người. Bình thường, nó có thể bị ẩn đi, nhưng khi gặp thời điểm cần thiết, nhất định nó sẽ bùng phát và trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Cái rìu vì thế luôn là cảm hứng và là đề tài cho các chuyện cổ tích và tiểu thuyết.

Thượng thủy tổ Mai An Tiêm ra đảo hoang, hay các vị tiên hiền khác của họ Mai tại các làng xã mới khai phá, chắc chắn đã đều sử dụng rìu. Từ ý nghĩa này phần nào giúp người đọc cảm nhận được sắc thái văn hóa gia tộc. Đó là sự kiên cường khai sơn phá thạch, dời non lấp biển, tự lực tự cường, tin tưởng nơi bản thân, dũng cảm trước kẻ thù… Cái rìu ở đây có tay người cầm nắm và điều khiển, vì thế nó mang tính khai phá, hành động.

 Cảm ơn tổ tiên đã chọn cho họ Mai ViệtNammột chữ riêng để khẳng định tính nội sinh, xác định nguồn gốc của họ Mai ViệtNam  và hàm chứa bản sắc văn hóa gia tộc truyền lại muôn đời cho con cháu.

3. Trường hợp tự nguyện mang họ Mai, đổi từ họ khác sang họ Mai hoặc họ Mai sang họ khác

Một số dân cư, khi nhập cư vào vùng đất Mai An Tiêm khai phá đã tự nguyện nhận là người họ Mai.

Thời Trần, khi quân Nguyên vào cướp nước ta, trong số vương hầu quan lại có người đến doanh trại giặc xin hàng. Năm 1289, khi giặc thua, triều đình xử tội đi đày hoặc tử hình, tịch thu điền sản sung công, tước bỏ quốc tính những người đầu hàng giặc và bắt đổi sang họ Mai: Trần Lộng là con của Tĩnh quốc công thì bắt đổi làm Mai Lộng, người khác cứ theo lệ ấy mà đổi (Theo tờ 58a, Đại Việt sử ký toàn thư).    

Năm 1395, Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần và giết Trung thần Phủ quân ty Trần Nguyên Uyên, tước bỏ họ Trần bắt đổi sang họ Mai, đó là theo lệ cũ: “người tôn thất có tội nặng bị tước quốc tính và đổi sang họ Mai”.

Cũng có thể có người nào đó trong tôn thất, muốn yên thân cũng tạm đổi họ.

Có vài trường hợp đổi họ Mai sang họ khác như ông Mai Trọng Tánh tham gia hoạt đông cách mạng từ trước năm 1945, tránh liên lụy cho gia đình và họ hàng ông đã đổi tên là Phan Công Chánh, khi sinh con cứ theo căn cước mà làm khai sinh, cứ vậy con cháu ông hiện nay ở Biên Hòa vẫn mang họ Phan nhưng gốc là họ Mai. Người họ Mai làm con nuôi họ khác như ông Mai Trọng Kỳ đổi thành Bùi Nuôi hoặc ông Phạm Xuân Nho sau này đổi lại họ Mai. Còn có nghi vấn họ Nguyễn của cựu thủ tướng Nguyễn Côn là gốc họ Mai… Một số trường hợp, trai họ Mai lấy gái họ Trần hoặc có chút tri ân kỷ niệm gì đó mà khi sinh con đặt tên Mai Trần…., không nên vì thế mà coi là gốc từ họ Trần chuyển sang.

Ý thức cội nguồn rất sâu đậm trong truyền thống người Việt. Đạo hiếu không cho phép ai bỏ tổ tiên, trường hợp có sự đổi họ thì cũng chỉ một đời là con cháu lại trở về họ cũ, không có ai chịu đổi mãi; đến như được vua ban họ là vinh dự lắm nhưng không ai chịu bỏ họ của tổ tiên mình, người xưa xem một trong bốn điều bất hiếu là vong tộc. Dã Lan Nguyễn Đức Dụ đã viết:

“Nôm na xin có mấy lời

Nhắn ai nòi Việt ngàn đời đừng quên.

Chữ rằng Mộc bản,Thủy nguyên,

Làm người quên gốc sao nên thân người”.

Sau khi chiến thắng quân Minh, Lê Thái Tổ thường lấy Quốc tính (họ nhà vua) ban cho các khai quốc công thần và công thần, lúc mới đầu thấy vinh dự, sau nhiều người thấy không ổn. Năm Quang Thuận 1464, Thượng thư Bộ Lễ Phạm Công Nghị tâu rằng: “Ban họ là phương sách chế ngự hào kiệt mà thôi. Nhưng nguồn vừa khơi mà dòng đã thành vẩn đục…, người làm tôi mà cùng họ với vua là bất kính, người làm con mà quên mất họ gốc của mình là bất hiếu. Làm sao có kẻ bất kính, bất hiếu mà làm nên việc được? Nên sửa bỏ lệ ấy đi để cho tông phái nhà vua được phân minh, cội nguồn các họ được rõ ràng”.

4. Nguồn gốc các họ Mai miền Nam Việt Nam

Các chi họ Mai ở các tỉnh miền Nam hầu hết đều có nguồn gốc từ các tỉnh miền Bắc hoặc Bắc Trung Bộ, việc di cư vào phía nam của các chi họ này đều gắn với các cuộc di cư lớn của dân tộc từ Bắc vào Nam trong lịch sử.

Các đợt di cư lớn theo thời gian như sau:

Từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV:

Năm 1069, sau thắng lợi của vua Lý Thánh Tông với quân Chiêm Thành. Tiếp đó vua Lý Nhân Tông chiêu mộ dân Thanh – Nghệ vào khai hoang lập ấp và sống theo từng họ ở mỗi vùng và lấy tên họ đặt tên làng, như ở Quảng Trị có Mai Xá Thượng, Mai Xá Hạ…

Năm 1306, Chế Mân xin dâng nạp Châu Ô và Châu Lý làm lễ cưới Công chúa Huyền Trân, đất Đại Việt được mở tới bắc đèo Hải vân.

Năm 1402, Hồ Hán Thương lấy thêm đất Chiêm Động, Cổ Lũy, đặt ra lộ Thăng Hoa gồm 4 châu: Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa. Họ Hồ lệnh cho các gia đình không có ruộng đất ở Thanh Nghệ phải vàoNamkhai phá đất mới.

Năm 1467, vua Chiêm là Trà Toàn ra xâm phạm Hóa Châu bị vua Lê Thánh Tông đánh bại và biên giới đại Việt lại mở rộng tới Đá Bia(Phú Yên) và đặt là phủ Hoài Nhơn.

Các chi họ Mai sau đây đã di cư trong thời gian này:

– Họ Mai Thạnh Hội, Tân Uyên, Bình Dương từ Nghệ An vào Hội An, họ này nhận Thủy tổ là Mai Thúc Loan nhưng chỉ ghi tiếp tên Mai Thúc Huy (706 – 790) và Mai Thúc Lập (760 – 844). Sau khi nhà Đường trấn áp được cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan, chúng tìm cách hãm hại Mai Thúc Lập là con của Mai Thiếu Đế. Vợ Mai Thúc Lập là Lê thị Vàn cùng các con là Mai Thúc Mỹ, Mai Thúc Vinh và hàng ngàn gia đình ứng nghĩa đi vào Quảng Trị năm 850.

Trong thời kỳ Trịnh – Nguyễn phân tranh, gia đình cháu đời thứ 3 của Mai Bá Tịnh là Mai Thuận Quảng (1532 – 1587), Mai Văn Nghĩa (1585 – 1655), Mai Văn Cảnh (1610 – 1666) từ Quảng Trị đến Hội An sinh sống.

– Chi họ Mai ở Thọ Linh – Quảng Trạch-Quảng Bình gốc Hà Tây có cụ Thủy tổ là Mai Phúc Khánh theo lệnh vua Lê Thánh Tông đưa quân vào dẹp giặc Châu Ô, được phép dừng lại khai hoang lập ấp đến nay đã hơn 550 năm.

– Chi họ Mai ở Đơn Sa – Quảng Trạch – Quảng Bình gốc ở Thanh Hóa có Thủy tổ là Mai Nhược đã cùng dân huyện Hà Trung đi khai Hoang đất mới năm 1478 ở Đơn Sa, đến nay đã hơn 550 năm.

– Chi họ Mai La Huân – Điện Bàn – QuảngNamcó Thủy tổ là Mai Phước Thông từ Nghệ An vào từ thời mới lập Thừa Tuyên – QuảngNamsau khi dẹp xong Chiêm Thành đã lập làng mới La Đăng thuộc Điện Bàn – QuảngNamngày nay.

– Chi họ Mai ở Phương Lang – Hải Lăng – Quảng Trị có Thủy tổ là Mai Kiện từ Nghệ An vào lập nghiệp năm 1496…

Từ đầu thế kỷ XVII – cuối thế kỷ XIX có 2 sự kiện lớn là Trịnh – Nguyễn phân tranh và phong trào Tây Sơn, từ đó có những cuộc di cư lớn vào nam Trung Bộ và Nam Bộ.

Đầu thế kỷ XVII, chúa Trịnh lộng quyền bức hại vua Lê, bắt đầu thời kỳ vua Lê – chúa Trịnh và họ Trịnh đằng ngoài – họ Nguyễn đằng trong tranh chấp quyền lực và lãnh thổ. Nhân dân Quảng Bình và Hà Tĩnh, Nghệ An – nơi xảy ra chiến trận liên miên bị đói khổ phải vượt biển vào Nam, dạt vào Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phan Thiết, Đồng Nai.

Năm 1655 – 1660 nhà Nguyễn chiếm 7 huyện phía nam sông Lam, bắt 3 vạn quân dân Nghệ Tĩnh vào khai khẩn từ Quảng Nam tới Phú Yên. Trong số đó có họ Hồ ở Quỳnh Lưu – Nghệ An vào An Khê – Bình Định. Hồ Phi Tiễn lấy vợ là Nguyễn Thị Đồng ở Tuy Viễn và đổi sang họ vợ, sinh con là Nguyễn Phi Phúc; Vợ Nguyễn Phi Phúc là Mai Thị Hạnh sinh ra Nguyễn Nhạc năm 1743, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ (Theo sách “Anh em Nhà Tây Sơn” của Quách Giao). Việc vua Tự Đức khi kết tội chống triều đình của Mai Xuân Thưởng có cô ruột là Mai Thị Hạnh cũng khẳng định Mai Thị Hạnh là mẹ sinh ra 3 anh em Tây Sơn. Hiện nay đền thờ vua Quang Trung ở Bình Định có đặt bài vị thờ bà Mai Thị Hạnh. Từ đó Bình Định trở thành cái nôi của phong trào Tây Sơn.

Năm 1620, Việt – Miên hòa hiếu, công chúa Ngọc Vạn làm hoàng hậu nước Miên. Việt Nam nhiều lần giúp Miên chống lại xâm lược Xiêm La. Thời gian này chúa Nguyễn cho các tướng bại trận nhà Minh là Trần Thượng Xuyên, Dương Ngạn Địch và Mạc Cửu cùng binh lính vào tị nạn tại Biên Hòa, Gia Định, Hà Tiên.

Năm 1658 – 1759, Nguyễn Cư Trinh, một nhà yêu nước – văn võ toàn tài, đã cùng Trần Thiện Chính lãnh đạo nhân dân biến vùng sình lầy lau sậy thành vùng đất trù phú. Một sử gia Pháp tên là De Tessan viết “Về nghệ thuật khai hoang, tháo nước, đào kênh, người Việt là bậc thầy, không có sự cực nhọc nào mà họ quản ngại”.

Năm 1698 hợp thức hóa 2 vùng Đồng Nai – Sài Gòn của Thủy Chân Lạp thành phủ Gia Định với 2 huyện Tân Bình và Phước Long là vùng đất Nam Bộ sau này.

Nghĩa quân Tây Sơn thắng lợi ở các tỉnh Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam, rồi tấn công Đồng Nai – Gia Định và các tỉnh Tây Nam Bộ, đặc biệt trận Rạch Gầm-Xoài Mút đánh thắng quân Xiêm sang giúp Nguyễn Ánh. Thời kỳ này có những đợt di cư mới: 50% quân số chốt lại sau khi thắng trận, nghĩa quân Tây Sơn đưa gia đình vào vùng đất mới sinh sống, kể cả gia đình quân nhân nhà Nguyễn cũng kéo nhau di cư vào Nam. Sau khi Nguyễn Ánh thắng, nhiều gia đình tham gia phong trào Tây Sơn cũng bỏ làng chạy vào phía nam tị nạn. Thời kỳ này hình thành một số chi họ Mai sau đây:

– Chi họ Mai ở Tân Kim, Cần Giuộc – Long An có cụ tổ Mai Văn Giả, cháu 4 đời của cụ Mai Kiện ở Quảng Trị.

– Chi họ Mai ở Thanh Hội – Biên Hòa nay thuộc Tân Uyên – Bình Dương có các gia đình Mai Văn Hỏa, Mai Văn Thủy và Mai Văn Mộc từ Hội An di cư vào Diên Khánh, Khánh Hòa. Đó là đợt di cư lớn do chúa Nguyễn Phúc Khoát chủ trương chiêu mộ hàng chục vạn dân nghèo ngụ cư và tù nhân vào khai phá vùng đất Khánh Hòa, Đồng Nai, Gia Định…

Khi Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh, Mai Văn Thổ chỉ huy một trong năm cánh quân tấn công Thăng Long(?). Tây Sơn thất bại, Mai Văn Thổ cùng con là Mai Văn Kim chạy vào Thạnh Hội, Biên Hòa. Tính từ thời Mai Bá Tịnh, họ Mai này có bề dày lịch sử 550 năm, 19 đời con cháu, thiên cư 4 lần, cuối cùng định cư tại Thạnh Hội – Bình Dương đến nay hơn 200 năm.

– Chi họ Mai ở phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành, thành phố Đà Nẵng, thủy tổ Mai Đăng Việt từ Nghệ An vào lập nghiệp ở Tân Lưu từ khoảng đầu thế kỷ XVIII, đến nay đã gần 300 năm.

– Chi họ Mai ở Khánh Hòa, có thủy tổ là Mai Thúc Chí làm quan triều Tây Sơn, có 2 con là Mai Xuân Tốn và Mai Xuân Thông, sau khi Tây Sơn thất bại, Mai Xuân Tốn ở lại Bình Định, Mai Xuân Thông chạy vào Nha Trang – Khánh Hòa.

Thời kỳ Pháp xâm chiếm Việt Nam:

Thời kỳ  này, có  nhiều biến động lớn gây bất ổn trong đời sống nhân dân gây nên một đợt di cư về phía nam.

Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, Pháp lập nhiều đồn điền rộng lớn ở miền Đông Nam Bộ; năm 1919 – 1923, Pháp chiêu mộ phu của các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Thanh Hóa vào các đồn điền ở miền Nam. Dân các tỉnh Trung Bộ cũng vào Gia Định – Chợ Lớn làm công nhân xây dựng, hỏa xa và các dịch vụ khác. Nhiều họ Mai sinh sống tại Biên Hòa, Sài Gòn, Thủ Dầu Một…

Đất nước ta qua hàng nghìn năm có nhiều biến cố lớn như Bắc thuộc, bị xâm lược, bị chiến tranh, tài liệu mất mát nhiều, các chi họ Mai ta  ai cũng muốn tìm về cội nguồn. Ngày nay dân tộc chúng ta đã tìm được vua Hùng là tổ tiên của dân tộc. Con cháu họ Mai từ Bắc chíNamđón nhận Thượng thủy tổ Mai An Tiêm (con rể vua Hùng) là thủy tổ họ Mai là hợp với đạo lý dân tộc, đó thật là may mắn và hạnh phúc.

Theo yêu cầu của việc thờ cúng, ai cũng muốn biết cụ tổ trực hệ của chi họ mình. Việc này đối với các chi họ ở phíaNamvô cùng khó khăn vì những người di cư toàn là người lao động trẻ, ra đi không có điều kiện mang theo gia phả cũng như quá trình chiến đấu để sinh sống cũng khó có điều kiện ghi chép được gia phả. Họa hoằn có mang theo được một ít tư liệu thì nay cũng không còn giữ được, vì vậy phần lớn là các tiểu chi, không có phả họ. Một số biết được quê gốc của mình ở Nghệ An, Hà Tĩnh cùng quê với Mai Thúc Loan thì tin rằng tiên tổ của mình là Mai Thúc Loan, nhưng vẫn không có cơ sở chắc chắn. Theo chúng ta biết được thì chỉ có vài ba chi họ có gốc từ phía Bắc như chi họ Mai ở Thọ Linh từ Sơn Tây, chi họ Mai ở Nông Sơn từ Hải Dương… Như vậy cuộc đi tìm nguồn gốc của các chi họ Mai ở phía Nam là rất khó khăn, ai cũng mong muốn làm tròn đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam. Chúng tôi rất mong nhận được sự hợp tác của bạn đọc.

(Theo thiếu tướng Mai Xuân Tần)

5. Phân bổ họ Mai trên toàn quốc và phả đồ quy ước

Qua việc khảo sát sơ bộ qua số điện thoại cố định trên toàn quốc chúng tôi thấy rằng họ Mai tập trung nhiều tại các tỉnhThanh Hóa,NamĐịnh, từ đó bằng học hành thành đạt mới tập trung về các thành phố lớn như Thành phố HCM và Hà Nội. Số máy đứng tên nữ họ Mai so với nam là đáng kể, có nhiều nơi vượt cả nam.

Advertisements

Một phản hồi to “IV. HỌ MAI VIỆT NAM”

  1. Mai Văn Hoa Says:

    Sau khi sách HỌ MAI VIỆT NAM xuất bản (3/2011), nhiều anh em bà con cô bác đã liên lạc với chúng tôi yêu cầu: cần bổ sung thêm những chi họ Mai chưa có trong sách.
    Nhân thấy đó là yêu cầu chính đáng và cần thiết cho việc tìm hiểu về dòng họ Mai Việt Nam. Chúng tôi đang tiếp tục tìm hiểu và thu thập tư liệu gia phả của các chi họ Mai khắp cả nước. Kính mong anh em bà con cô bác họ Mai cung cấp tư liệu để chúng tôi biên soạn chờ khi tái bản.
    Trong quá trình biên soạn tiếp, tìm hiểu được chi họ nào thì tôi đưa tóm tắt vào bài này. Rất mong sự góp ý của mọi người.
    Chi họ tiếp theo sẽ bắt đầu từ số thứ tự 101.

    Liên hệ tại địa chỉ: Mai Văn Hoa
    Số 3 – Ngõ 181 – Đường Trần Hưng Đạo – TP Vinh – Tỉnh Nghệ An
    ĐT: 0383830855 – 01234081738 – 0989659069
    Email: maivanhoax@yahoo.com

    101/ Chi họ Mai thôn Trung, xã Đào Viên, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
    Nguồn tư liệu: Tộc trưởng Mai Trọng Sinh
    Mai Trọng Chinh, ĐT: 0914128139
    Họ Mai thôn Trung, xã Đào Viên, huyện Quế Dương, nay thuộc xã Đào Viên, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh nguồn gốc không rõ từ đâu tới. Theo gia phả, đến đời thứ 2 thì bắt đầu phát tích là dòng họ khoa bảng tại xứ Kinh Bắc và cũng chỉ biết được chi thứ 8 còn các chi khác không rõ.
    – Thủy tổ hiệu Ông Bảo tiên sinh.
    – Sơ tổ Mai tướng công, tự Trọng Bang tiên sinh (1482-1522), thi đỗ khoa Tân Mùi (1511) triều Lê trúng Đệ nhị giáp chánh tiến sỹ xuất thân, làm quan đến chức Hàn lâm viện hiệu lý (năm 1522 bị tử trận).
    – Sơ tổ Mai Khuyến tiên sinh, thi khoa Ất Mùi (1535) trúng Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, phụng mệnh đi sứ, làm quan đến chức Lễ bộ tả thị lang, phong tặng tước tử, phong Quận công (Theo sách “các nhà khoa bảng Việt Nam” của Ngô Đức Thọ: Mai Khuyến em Mai Bang, cha của Mai Công, cố nội Mai Trọng Hòa).
    – Sơ tổ Mai Công tiên sinh (1530-1593), thi đỗ khoa Quý Sửu (1553) triều Mạc ban cho Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân, phụng mệnh đi sứ, làm quan tới chức Hình bộ thượng thư, tước An Thường hầu, Giỗ ngày 20 tháng Giêng (Đại Việt thông sử khẳng định: Tướng công là một nho quan cẩn trọng, khoan hậu, khẳng khái, chính nhân quân tử, là thượng thư duy nhất giữ được khí tiết trung quân với Mạc chủ, không khuất phục Trịnh Tùng).
    – Cháu của Tiến sỹ Mai Khuyến là Mai quý công, tự là Trọng Lãng tiên sinh, làm tri huyện huyện Lương Tài (không rõ ông Lãng do ai sinh). Trọng Lãng sinh Trọng Trật và Huy Hoàng; Hoàng sinh Trọng Kính; Kính sinh Trọng Tỏa; Tỏa sinh một trai nhưng không rõ tên, người con trai này vô tự.
    – Sơ tổ Mai Đài Công, tự Mẫn Tiết, hiệu là Đạo Nguyên tiên sinh chi thứ 8 (không rõ vì sao lại ghi chi thứ 8) trúng Hương thí triều Mạc, ứng triều lịệt đại phu nho sinh trúng thức, sau tặng phong chức Thái bảo quảng kiếm.
    – Tiên tổ nho sinh Mai Trọng Hoa, hiệu Trung Tín tiên sinh, sinh được 1 trai là Trọng Dong, giao cho người em là Trọng Hòa nuôi dưỡng, theo nhà Mạc đi lên phía Bắc không thấy trở về.
    – Sơ tổ Mai quý công tự Trọng Hòa (1610-1673), hiệu là Thận, húy là Lý Chính tiên sinh. Sau khi nhà Mạc suy vong, nhà Lê giữ ngôi và ra chiếu chỉ triệu tập những người tài ứng thí; khi đó ông 50 tuổi cũng xin ra ứng thí và đã trúng đến Hoàng giáp khoa Kỷ Hợi (1659). Triều vua Vĩnh Thọ ban cho Đệ nhị giáp chánh Tiến sỹ xuất thân, ông làm Hình pháp Xứ Sơn Tây, sau đó làm quan đến chức Hiến sát sứ; sinh được 5 trai (tư liệu về 5 người con trai không thấy ghi tiếp).
    Gia phả viết vào năm 1941, các cụ căn cứ tư liệu văn bia của 4 tiến sĩ, lập từ thủy tổ đến cụ Mai Trọng Dong (sinh khoảng 1610 – 1615) là đời thứ 6, chi trưởng đến đời thứ 8 thì vô tự. Người kế Đại tôn là Cao tổ Mai Trọng Dung (sinh khoảng 1800). Như vậy ta có thể dễ dàng nhận ra: từ cụ Mai Trọng Dong đến cụ Mai Trọng Dung còn trống về tư liệu tương đương với 6 đời.
    Từ thủy tổ đến nay phát triển được 20 đời

    Trên đây là tư liệu 6 đời đầu. Còn thiếu tư liệu 6 đời giữa. Sau đây xin lược trích 3 đời tiếp theo:
    – Đời 13: Mai Trọng Dung sinh: Trọng Tú, Trọng Thủy.
    – Đời 14: Trọng Tú sinh: Trọng Phúc, Trọng Lang, Trọng Thùy.
    Trọng Thủy sinh: Trọng Phiên, Trọng Hoàn, Trọng Kiếu, Trọng Kiên.

    102/ Chi họ Mai thôn Gia Miêu, xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa
    Nguồn tư liệu: Mai Quang Phấn
    Nghe rằng: Phổ là để ghi chép công đức của tiền nhân cho hậu thế xem. Gia Miêu Ngoại Trang của chúng ta đứng đầu trong 12 trang ở Thượng Bản, huyện Tống Sơn (năm Gia Long nguyên niên được ban tên là Quý Hương). Bốn tộc đứng thứ 4 trong các tộc ở đây. Nhưng thế phổ của tổ tiên của chúng ta lại được ghi chép chưa rõ rang. Nay chép lại các tổ trong gia tộc làm gia phổ theo từng đời, từng thứ bậc. Tổ tiên của bốn tộc đều ghi chép về sự nghiệp, tên huý, hiệu, nơi chon, phần mộ để con cháu nối dõi sau này đời đời được biết đến.
    Người tiêu biểu của dòng họ là Trung tướng Mai Quang Phấn, UVTW Đảng , Chính ủy QK IV.

    Chúng tôi xin lược trích một số đời đầu:
    Khởi tổ Mai Văn Hiền sinh Văn Tính; Tính sinh Bằng; Bằng sinh Bách; Bách sinh Sưu; Sưu sinh Lan.
    – Đời 6: Lan sinh: Răng, Chấp, Miện
    – Đời 7: Răng sinh Hỷ
    Chấp sinh: Trung, Đường, Bằng
    Miên sinh: Diên, Cử
    – Đời 8: Hỷ sinh Thân
    Trung sinh: Khuể, Chí
    Đường (không rõ về sau)
    Bằng sinh: Ánh, Cờ, Thắng
    Cử sinh: Duật, Nhu, Phụng

    103/ Chi họ Mai xã Hoằng Cát, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa
    Nguồn tư liệu: Tộc trưởng Mai Xuân Vẫy, ĐT: 01636068437
    Họ Mai xã Hoằng Cát không rõ nguồn gốc từ đâu đến. Chỉ biết rằng: Thủy tổ Mai quí công, không rõ húy tự, không rõ năm sinh và tuổi, mất năm 1695; sinh được một con trai Mai quí công cũng không rõ húy tự, sinh ra Mai quí công tự Phúc Tính.
    Từ thủy tổ đến nay phát triển được 14 đời. Đến đời thứ 7, vào thời vua Minh Mệnh, ông Mai Xuân Chẩn trốn lính, chạy vào Thạch Thất (nay là xã Đông Quang, huyện Đông Sơn) làm nghề dạy học và định cư ở đó, sinh được 3 con trai; về sau trai trưởng và trai thứ ba trở về cố hương.
    Xin lược trích một số đời đầu như sau:
    – Đời 3: tự Phúc Tính sinh: An Đạo.
    – Đời 4: tự An Đạo sinh: Chuẩn Tuyên, Phúc Cẩn, Phúc Đồng.
    – Đời 5: Chuẩn Tuyên sinh: Vướng, Học, Hành.
    Phúc Cẩn sinh: Bình
    – Đời 6: Vướng sinh: Thắng, Vương, Long, Lung
    Bình sinh: Chẩn, Thực, Đông
    – Đời 7: Thắng sinh: Đoan, Gánh, Kim
    Long sinh: Lĩnh
    Chẩn sinh: Hiếu, Đức, Tập
    Thực sinh: Phiên, Phần
    Đông sinh: Hân

    104/ Chi họ Mai xã Hoằng Trạch, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa
    Nguồn tư liệu: Thủ bạ Mai Trọng Khương
    Mai Trọng Thái, ĐT: 0949013573
    Cụ thủy tổ Thủ Ngung công, sinh trưởng tại thôn Yên Lộc, xã Yên Đốn (nay là xã Nga Yên) huyện Nga Sơn. Khi Hồ Quý Ly chiếm ngôi nhà Trần, Cụ chạy vào đây (xã Bái Cầu, nay là xã Hoằng Trạch), đào giếng, đắp đường, đặt nơi ở; Cụ còn lưu tâm mở lớp dạy học; con trai cụ là Mặc Trai tiên sinh đã thi đậu và làm quan Tri huyên huyện Vĩnh Lộc.
    Từ thủy tổ đến nay, trải qua trên 600 năm; họ Mai xã Hoằng Trạch đã phát triển được 22 đời.
    Họ Mai xã Hoằng Trạch đã có nhiều đóng góp cho nước nhà trong các cuộc kháng chiến. Đã có 4 liệt sĩ hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc: Mai Trọng Bổng, Mai Trọng Yêng, Mai Trọng Truật, Mai Trọng Việt; có Mẹ Việt Nam anh hùng Mai Thị Ngẫy.
    Chúng tôi xin trích lược các đời đầu như sau:

    – Thủy tổ sinh: Mặc Trai, Thiện Tính; Thiện Tính sinh Thiện Trung; Thiện Trung sinh Chính Thiên; Chính Thiên Thiên sinh Trực Tâm; Trực Tâm sinh Trực Tính; Trực Tính sinh Thiên Trực.
    – Đời 7: Thiên Trực sinh: Trọng Nghị, Trọng Đồng, Trọng Lam, Phúc Đạt
    – Đời 8: Nghị sinh Đạo
    Đồng sinh: Tuấn, Hậu, Hiền, Trí
    Đạt sinh: Thân, Mỹ, Thuần, Chính
    – Đời 9: Tuấn sinh: Đề, Chung
    Hậu sinh Phúc
    Hiền sinh Đôn
    Thân sinh Hữu (ông Hữu do ai sinh không rõ, chỉ biết là cháu ông Phúc Đạt và ông
    Hữu di cư lên huyện Nông Cống nay vẫn chưa kết nối được).
    Mỹ sinh Đắc (ông Đắc cũng là cháu ông Phúc Đạt nhưng không rõ con ông nào).

    105/ Chi họ Mai thôn Canh Hoạch, xã Xuân Lai, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa
    Nguồn tư liệu: Tộc trưởng Mai Văn Cánh
    Thầy giáo Mai Văn Mão
    Họ Mai thôn Canh Hoạch vào thời Tây Sơn dựng cờ “phò Lê diệt Trịnh” và Hoàng đế Quang Trung – Nguyến Huệ kéo quân ra Bắc đánh đuổi quân nhà Thanh; anh em họ Mai sợ phải liên lụy, đã phân chia con cháu tìm đường lánh nạn. Theo truyền khẩu của các lớp tiền bối cùng với bản chép tay của ông Mai Văn Sen thì: Có 4 anh em trai họ Mai từ phía nam sông Lam Nghệ An (nay là Thị xã Hồng Lĩnh) về định cư tại thôn Lộc Trạch, xã Nhật Tiến, phủ Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa (nay là xã Đồng Lợi, huyện Triệu Sơn). Bốn người con trai đó có tên tự là: Phúc Hưởng, Phúc Chất, Phúc Lương, Phúc Đạo. Chưa yên tâm, 3 ông: Hưởng, Lương, Chất lên thôn Canh Hoạch, xã Xuân Lai, huyện Thọ Xuân định cư. Sau đó ông Lương lại ra huyện Nga Sơn định cư, ông Chất là em út bị đau yếu không có con ở lại cùng anh cả tại Canh Hoạch.
    Họ Mai thôn Canh Hoạch chỉ biết được sự tích của 4 cụ tổ, không còn gia phả, nhờ sự kiên trì và cố gắng của anh em trong họ, nay đã lập lại được gia phả, xác định được thứ bậc anh em rõ ràng; tuy nhiên cũng bị thiếu tư liệu một số đời.
    Năm 1982, anh em đã tìm kiếm và kết nối được với con cháu ông Phúc Đạo dưới thôn Lộc Trạch, xã Đồng Lợi. Từ đó đến nay anh em 2 chi họ Mai ở Canh Hoạch và Lộc Trạch đi lại thăm viếng lẫn nhau và tham dự lễ tế tổ của 2 bên. Còn con cháu hậu duệ ông Phúc Lương đến nay vẫn chưa kết nối được.
    Từ Thủy tổ đến nay đã phát triển được 10 đời; chia thành 3 chi, có 11 tiểu chi.
    Những người tiêu biểu của dong họ:
    – Họ Mai làng Canh Hoạch có 7 liệt sĩ hy sinh vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và bảo vệ tổ quốc là: Mai Văn Tuynh, Mai Văn Khiêm, Mai Văn Thi, Mai Văn Nghĩa, Mai Văn Giới, Mai Văn Quỳnh, Mai Văn Xuân.
    – Mai Văn Quyến là Cai tổng Tổng Phú Hà, huyện Thọ Xuân, được triều đình nhà Nguyễn tặng phong hàm bát phẩm.
    – Mai Văn Vỹ (em trai ông Quyến) là nhà buôn, đã bỏ tiền xây dựng trường thôn Canh Hoạch, nhiều tiến sĩ, thạc sĩ đã học dưới mái trường này.
    – Mai Văn Sen là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, hoạt động sau CM Tháng Tám năm 1945.

    Gia phả mới được thiết lập, một số đời đầu không có tư liệu. Chúng tôi xin lược trích một số đời như sau:
    – Thủy tổ: tự Phúc Hưởng
    – Đời 5: Mai Văn Nhơn (chi 2) sinh: Văn Cai, Cố Thới
    – Đời 6: Chi 1: Văn Tăng, Văn Nhương, Văn Ánh (không rõ các đời trước)
    Văn Cai sinh: Văn Quyến, Văn Sán, Văn Vỹ
    Cố Thới sinh: Ông Thới, Ông Thơ
    – Đời 7: Văn Tăng sinh Văn Ân
    Văn Nhương sinh Văn Mai
    Văn Quyến sinh: Nhung, Chiến, Vũ, Tài, Chức
    Văn Sán sinh: Sỹ, Nho, Tuấn, Nhân, Cần, Đại
    Văn Vỹ sinh: Đoàn, Tập, Bình, Khôi, Tuynh
    Văn Thơ sinh: Tấn, Viễn, Bồng, Tích

    106/ Chi họ Mai thôn Lộc Trach, xã Đồng Lợi, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa
    Nguồn tư liệu: Tộc trưởng mai Văn Dòng, ĐT: 01652628956

    Họ Mai thôn Lộc Trạch, xã Đồng Lợi, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa cùng chung nguồn gốc với họ Mai thôn Canh Hoạch, xã Xuân Lai, huyện Thọ Xuân (xin mời xem tư liệu họ Mai thôn Canh Hoạch trên đây).
    Các liệt sĩ hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ tổ quốc:
    Mai Văn Ngọc, sinh 1937, hy sinh 1965. Mai Văn Chắc, sinh 1942, hy sinh 1969
    Mai Văn Long, sinh 1948, hy sinh 1971. Mai Văn Sinh, sinh 1940, hy sinh 1968
    Mai Văn Tấn, sinh 1950, hy sinh 1972. Mai Văn Đương, sinh 1944, hy sinh 1972
    Chúng tôi xin trích tư liệu các đời đầu như sau:
    – Thủy tổ: tự Phúc Đạo sinh: Phúc Nghiêm, Phúc Diệp, Phúc Túc
    – Đời 2: Phúc Nghiêm sinh Văn Vượng
    Phúc Diệp sinh Văn Vợn
    Phúc Túc sinh Văn Nhụy
    – Đời 3: Văn Vượng sinh ra ông tổ chi 1
    Văn Nhụy sinh ra ông tổ chi 2
    – Đời 4, đời 5: Thiếu tư liệu
    – Đời 6: Chi 1: a/ Trang sinh Nhân, Sơ
    Tao vô tự
    Hiệp sinh: Tụy, Phông, Hùng
    b/ Nguyên sinh: Ngan, Đờn, Khương, Hy
    Quớt vô tự
    c/ Tứ sinh: Cống, Ngẫu
    Chi 2: a/ Thới sinh: Châu, Ngọc
    b/ Tiêu sinh: Tỉnh, Ngỡ, Đường
    Lái sinh: Quỹ, Bưởi, Luân, Khá
    c/ Khắc sinh: Học, Tập, Đại, Hồ
    – Đời 7: Sơ sinh: Dòng, Cây, Nở, Trứng, Cường, Chung, Thành
    Tụy sinh: Tu, Mỳ, Đỡ, Đồng, Tâm, Cảnh
    Phông sinh Sơn
    Hùng sinh: Dũng, Doãn
    Ngan sinh: Phiên, Lênh, Đương, Dương
    Đờn sinh Viễn
    Hy sinh: Thi Thắng
    Cống sinh Nhàn
    Ngẫu sinh: Chờ, Đợi
    Châu sinh: Tuấn, Tú, Trường, Thọ
    Tỉnh sinh: Luyên, Chùy, Chắc
    Ngỡ sinh: Chuân, Tuyên
    Đường sinh: Thoại, Đàm, Lành, Thanh
    Quỹ sinh: Lợi, Long, Thăng, Thắng
    Bưởi sinh: Sính, Tùng
    Luân sinh: Huê, Hưng, Quảng
    Khá sinh: Lợi, Lộc, Ba
    Đại sinh: Diệm, Vui
    Hồ sinh: Bôn, Ba, Tư

    107/ Chi họ Mai thôn Bùi, xã Quảng Giao, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa
    Nguồn tư liệu: Tộc trưởng Mai Văn Thắng
    Mai Văn Phúc, ĐT: 0373799093
    Họ Mai làng Bùi vốn là dòng họ thi lễ. Thủy tổ là cụ Mai Biểu từ huyện Nga Sơn đến làng Bùi lập nghiệp từ thời Lê Thánh Tông; đến nay họ Mai làng Bùi đã phát triển được 18 đời, chia thành 3 chi.
    Thời “loạn Tây Sơn”, gia phả bị thất lạc, nên nguồn gốc thế thứ có phần thất truyền. Không lẽ chịu cảnh mơ hồ về tổ tiên mãi sao? Đến đời thứ 14, thầy dạy học là cụ Mai Nhiên đã lưu tâm thu thập tư liệu, soạn thành gia phả; từ đó họ Mai làng Bùi đã có được cây phả hệ sum suê cành nhánh. Đó là báu vật để lưu truyền mãi mãi; tuy nhiên tư liệu cũng bị thiếu mất 3 đời (4,5,6 – trên phả đồ đường dẫn là đường không liền nét).
    Trong các cuộc kháng chiến, họ Mai làng Bùi đã có nhiều đóng góp cho đất nước, đã có 11 liệt sĩ hy sinh vì Độc lập của Tổ quốc: Mai Mông, Mai Minh, Mai Đương, Mai Nhường, Mai Tụ, Mai Xoan, Mai Lát, Mai Hoa, Mai Lộc, Mai Quang, Mai Mẫu.
    Những người nổi tiếng của họ Mai làng Bùi là: cụ thủy tổ Mai Biểu là Quốc tử giám Giám sinh; Mai Lý là Hương cống năm 1734, Tri huyện huyện Chân Lộc, sắc phong Tài Thuyên Tự thừa Lam Kinh điện, là hậu thần; Mai Đề sắc phong Hoa điện Trị sự …
    Chúng tôi xin lược trích tư liệu các đời đầu như sau:
    – Thủy tổ: Mai Biểu sinh Mai Thiên, Mai Thiên sinh Mai Thắng
    – Các đời 4, 5, 6 thiếu tư liệu
    – Đời 7: Mai Tư sinh Mai Tông
    – Đời 8: Mai Tông sinh: Mai Ban, Mai Lý, Mai Cảnh
    – Đời 9: Ban sinh: Triệu, Điển, Di
    Lý sinh: Đại, Trừ, Hướng, Thiệu, Nghĩa, Lân
    Cảnh sinh Cai
    – Đời 10: Di sinh: Quyền, Khán
    Đại sinh Toản
    Trừ sinh Thái
    Hướng sinh Cư
    Thiệu sinh Vân
    Lân sinh: Kiểu, Mộc, Xuân
    Cai sinh: Đề, Quới, Nhi
    – Đời 11: Khán sinh: Miên, Nguyên, Hiệu
    Toản sinh: Ngạn, Bân
    Thái sinh: Hạnh, Công
    Cư sinh: Quang, Huy, Thiên
    Vân sinh Bình
    Xuân sinh: Thích, Ninh, Khải
    Quới sinh: Thao, Hội, Dinh
    – Đời 12: Miên sinh: Duy, Nhẫn, Giang, Việt
    Nguyên sinh: Viễn, Dia, Bạng
    Ngạn sinh: Hoạch, Thược, San, Giai
    Bân sinh: Thiên, Tỏa, Diễn
    Hạnh sinh: Trường, Huân
    Công sinh Tân
    Quang sinh Sỹ
    Huy sinh Chấp
    Bình sinh Đốc
    Thích sinh: Xán, Trung tam 911 Nghe An
    Ninh sinh: Tuy, Tơng
    Khải sinh Hoan
    Thao sinh Thành
    Hội sinh: Cứ, Trí
    Dinh sinh: Thọ, Trác, Tri, Chất

    108/ Chi họ Mai Thế thôn Mậu Xương, xã Quảng Lưu, huyện Quảng Xương
    Nguồn tư liệu: Mai Xuân Doanh
    Mai Xuân Chiến, ĐT: 0946520059
    Thời Lê trung hưng, cụ thủy tổ Mai Thế Cẩn từ xã Thiết Giáp, tổng Đô Bái, huyện Nga Sơn di cư vào xã Thủ Hộ, tổng Thủ Hộ (nay là làng Mậu Xương, xã Quảng Lưu).
    Đến đời thứ 3, cụ Mai Thế Tế, tự Phúc Đường lập chiến công lớn, trong một ngày (26 tháng 2 năm Cảnh Hưng thứ 44 – 1783) được phong 3 đạo sắc (nay còn lưu giữ được 2 sắc nguyên vẹn). Tạm phiên âm:
    1/ SẮC QUẢNG XƯƠNG HUYỆN THỦ HỘ XÃ BÁCH HỘ MAI THẾ TẾ VI DẨY TIẾN HỒNG CẬY NGƯU BINH NHÂM DẦN NIÊN ĐỒNG DỮ NỘI NGOẠI CHƯ QUÂN DẬC ĐỚI TƯ VƯƠNG HIỂU CÔNG KỶ KINH CHỈ CHUẨN LỘC CHỨC NHẤT THỨ TÁI GIA SẮC LỘC NHẤT THỨ PHÓ THIÊN HỘ CHỨC KHẢ VI TRÁNG TUYẾT TƯỚNG QUÂN HIỆU LỆNH TƯ THỨ KIM TRÁNG SỸ THIẾT CẬY UY PHÓ THIÊN HỘ TRUNG LIỆT CỐ SẮC
    CẢNH HƯNG TỨ THẬP TỨ NIÊN NHỊ NGUYỆT NHỊ THẬP LỤC NHẬT

    2/ SẮC QUẢNG XƯƠNG HUYỆN THỦ HỘ XÃ ĐỘI TRƯỞNG MAI THẾ TẾ VI DẨY TIẾN HỒNG CẬY YÊN BÌNH NHÂM DẦN NIÊN ĐỒNG DỮ NỘI NGOẠI CHƯ BINH DẬC ĐỚI CÔNG DẨY KINH CHI CHUẨN ƯNG LỘC CHỨC NHẤT THỨ BÁCH HỘ CHỨC KHẢ VI CỰU LỤC TƯỚNG QUÂN HIỆU LỆNH TƯ TRÁNG SĨ BÁCH HỘ HẠ TRẬT CỐ SẮC
    CẢNH HƯNG TỨ THẬP TỨ NIÊN NHỊ NGUYỆT NHỊ THẬP LỤC NHẬT

    Họ Mai thôn Mậu Xương đã có nhiều đóng góp trong các cuộc kháng chiến để giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc; đã có 4 liệt sĩ hy sinh là: Mai Đáo, Mai Cẩm, Mai Hiệp, Mai Tiến.
    Từ thủy tổ đến nay họ Mai thôn Mậu Xương đã phát triển được 12 đời, chia làm 2 chi; ngoài ra còn có cành thứ hai là con nuôi trước đây của dòng họ ở xóm Mậu Tây, làng Mậu Xương, xã Quảng Lưu.

    Chúng tôi xin trích tư liệu các đời đầu như sau:
    – Thủy tổ: Mai Thế Cẩn sinh Phúc Hiển
    – Đời 2: Phúc Hiển sinh: Mai Thế Tế (tự Phúc Đường), Phúc Lợi, Phúc Hào
    – Đời 3: Thế Tế sinh Phúc Hưng
    Phúc Lợi sinh Hậu
    – Đời 4: Phúc Hưng sinh Phúc Ánh
    Hậu sinh: Thanh, Hảo, Thuật
    – Đời 5: Phúc Ánh sinh: Phúc Vóc, Phúc Long
    Thanh sinh Nha
    Hảo sinh: Lâm, Dệnh
    Thuật sinh: Khiết, Hành
    – Đời 6: Phúc Vóc sinh: Quý, Tân
    Phúc Long sinh: Nghiêm, Thiên, Sắc
    Nha sinh Nhuần
    Lâm sinh: Niêm, Chuyên, Điểm, Tựa
    Dệnh sinh: Đăng, Trưởng, Thương
    Hành sinh Nhi
    – Đời 7: Quý sinh: Trai, Ngọ, Dâu
    Tân sinh: Lân, Ân
    Nghiêm sinh Bâu
    Thiên sinh: Đồng, Định
    Sắc sinh: Xoan
    Niêm sinh: Nhiên, Nguyên
    Chuyên sinh: Biên, Khuyết, Tương
    Điểm sinh Tiệm
    Tựa sinh Mệch
    Đăng sinh: Đưỡng, Đởi
    Trưởng sinh: Hạng, Hiệp, Lanh, Thường
    Thương sinh Đương
    Nhi sinh Ước
    – Đời 8: Trai sinh: Hiên, Hân, Dân
    Dâu sinh Hưng
    Lân sinh: La, Truyện, Trò
    Ân sinh Mâm
    Bâu sinh: Tình, Việt, Trì
    Đồng sinh: Đáo, Liễu
    Định sinh Thành
    Xoan sinh Đào
    Nhiên sinh: Diệm, Toán, Hoán
    Nguyên sinh Tạo
    Tương sinh: Phòng, Tiến, Hải
    Tiệm sinh: Tùng, Hùng, Dũng
    Mệch sinh Nhung
    Đưỡng sinh: Nuôi, Thành, Thọ, Thoa
    Đởi sinh Đấng
    Hạng sinh Lâm
    Hiệp sinh: Sơn, Trung
    Lanh sinh Ram
    Thường sinh: Quang, Thông, Hà
    Đương sinh Năm
    Ước sinh Nhung

    109/ Chi họ Mai xã Hưng Thông, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An
    Nguồn tư liệu: Mai Văn Bư
    Họ Mai xã Hưng Thông không rõ nguồn gốc từ đâu. Theo ông Mai Văn Bư thì thủy tổ không rõ tên, sinh khoảng 1840, sinh được 2 anh em trai là Mai Văn Xoán và Mai Văn Xân. Ông Xoán định cư ở xã Hưng Thông, ông Xân định cư ở huyện Anh Sơn. Ông Bư nhận định: thủy tổ có nguồn gốc họ Mai La Sơn, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.
    Chúng tôi xin lước trích tư liệu như sau:
    – Thủy tổ sinh: Mai Văn Xoán, Mai Văn Xân
    – Đời 2: Xoán sinh: Hai, Ba, Tư, Năm
    Xân sinh Hồng
    – Đời 3: Ba sinh: Lân, Hán, Liễu
    Tư sinh: Cư, Thư, Chư, Bư
    Hồng sinh Xuân
    – Đời 4: Lân sinh: Quảng, Đạt, Tùng, Hưng
    Hán sinh Tâm
    Chư sinh: Thử, Thanh
    Bư sinh: Lương, Phi
    Xuân sinh: Vinh, Thân
    – Đời 5: Quảng sinh: Bảo, Nhật
    Đạt sinh: Bản, Tấn
    Tùng sinh: Tăng, Thủy
    Hưng sinh Toản
    Tâm sinh: Thành, Trung, Kiên
    Thử sinh Huy
    Thanh sinh Trọng
    Lương sinh Đạt
    Phi sinh Phong


Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: