6.Sách HỌ MAI VN

(Bìa 1 và 4 sách Họ Mai Việt Nam)

MỤC LỤC VÀ NỘI DUNG SÁCH HỌ MAI VIỆT NAM

Lời nói đầu (Giáo sư Sử học Đinh Xuân Lâm)
Lời mở (Chủ biên Mai Trọng Nhân)

Chương I: NGUỒN GỐC HỌ MAI VIỆT NAM
I. Thượng thủy Tổ Mai An Tiêm
II. Cao thủy Tổ Mai Tiến – Lê Thị Hoa
III. Cao thủy Tổ Mai Thúc Loan
IV. Họ Mai Việt Nam

Chương II: CÁC CHI HỌ MAI VIỆT NAM

1. Chi họ Mai Thế ở Hậu Trạch,Thạch Giản,  Nga Sơn, Thanh Hóa (tr. 49)
2. Chi họ Mai Thế ở Nga Nhân, Nga Sơn, Thanh Hóa (tr. 59)
3. Chi họ Mai Thế ở Nga Hải, Nga Sơn, Thanh Hóa (tr. 63)
4. Chi họ Mai Ngọc ở Nga An, Nga Sơn, Thanh Hóa (tr. 65)
5. Chi họ Mai Đức ở  Ngũ Kiên, Nga Thiện, Nga Sơn, Thanh Hóa (tr. 67)

6. Chi họ Mai Trọng ở Yên Ninh, Nga Yên, Nga Sơn, Thanh Hóa (tr. 70)
7. Chi họ Mai Văn ở Yên Hạnh, Nga Mỹ, Nga Sơn, Thanh Hóa (tr. 73)
8. Chi họ Mai ở xóm Dù, Mại Đức, Nga Hưng, Nga Sơn, Thanh Hóa (tr. 78)
9. Chi họ Mai ở xóm Hưng Lại, Nga Hưng, Nga Sơn, Thanh Hóa (tr. 80)
10. Chi họ Mai xóm ở Hưng Bắc, Nga Hưng, Nga Sơn, Thanh Hóa (tr. 81)

11. Chi họ Mai Chấn ở Trung Thành, Nga Thành, Nga Sơn, Thanh Hóa (tr. 82)
12. Chi họ Mai Xuân ở Bắc Thành, Nga Thành, Nga Sơn, Thanh Hóa (tr. 84)
13. Chi họ Mai ở làng Mật Kỳ, Nga Trường, Nga Sơn, Thanh Hóa (tr. 86)
14. Chi họ Mai Văn ở Nga Nhân, Nga Sơn, Thanh Hóa (tr. 88)
15. Chi họ Mai ở Đông Thành, Nga Thành, Nga Sơn, Thanh Hóa

16. Chi họ Mai Sĩ ở Nga Hải, Nga Sơn, Thanh Hóa (tr. 90)
17. Chi họ Mai Phúc ở Quang Lộc, Hậu Lộc, Thanh Hóa (tr. 93)
18. Chi họ Mai ở Hưng Lộc, Hậu Lộc, Thanh Hóa (tr. 97)
19. Chi họ Mai ở Bồng Trung, Vĩnh Tân, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa (tr. 99)
20. Chi họ Mai ở làng Đọ, Thiệu Khánh, Thiệu Hóa, Thanh Hóa (tr. 103)

21. Chi họ Mai Thế ở Vân Yên, Hà Vân, Hà Trung, Thanh Hóa (tr. 105)
22. Chi họ Mai Quang và Mai Huy ở Mai Xá và Trung Xá, Hải Dương 9tr. 108)
23. Chi họ Mai ở An Lãng, Trực Chính, Trực Ninh, Nam Định (tr. 114)
24. Chi họ Mai ở An Lãng, Bùi Chu, Nam Định (tr. 116)
25. Chi họ Mai ở xã Hải Hậu, Hải Hậu, Nam Định (tr. 117)

26. Chi họ Mai ở Giao Tiến, Giao Thủy, Nam Định (tr. 120)
27. Chi họ Mai ở Kiên Lao, Xuân Kiên, Xuân trường, Nam Định (tr. 124)
28. Chi họ Mai ở An Ninh, An Lão, Bình Lục, Hà Nam (tr. 126)
29. Chi họ Mai ở Yên Lạc, Đồng Hóa, Kim Bảng, Hà Nam 9tr. 129)
30. Chi họ Mai ở Cao Lãm, Cao Thành, Ứng Hòa, Hà Nội (tr. 135)

Chương III: NHÂN VẬT TIÊU BIỂU HỌ MAI VIỆT NAM

1. Kiêm Thiên Hoàng Thái Hậu Mai Thị (tr. 345)
2. Mai Trực (909-1091) (tr. 345)

3. Thượng đẳng Phúc thân sư Bà ngọc nữ Mai Thị Triều (tr. 346)
4. Mai Danh Tông (tr. 347)

5. Thượng Đẳng Tôn Thần Chiêu Nghi Mai Thị Ngọc Tiến (tr.348)

……                                                                                                                

Chương IV:  THÀNH TÍCH HỌ MAI VIỆT NAM TRONG BẢO VỆ VÀ XÂY DỰNG TỔ QUỐC 
4.1. Di tích Lịch sử đã được xếp hạng
4.2. Danh sách Phúc thần
4.3. Tổ quốc ghi công:
1/ Danh sách Lão thành Cách Mạng và Tiền Khởi nghĩa
2/ Danh sách Chiến sĩ Cách mạng nghệ Tĩnh
4.4. Các Quan chức cao cấp
1/ Danh sách Vương Công Hầu Bá
2/ Danh sách Cán bộ Cao cấp Chính-Đảng
3/ Danh sách Tướng Tá Lực lượng Vũ trang
4.5. Khoa bảng
1/ Danh sách Đại khoa Nho học
2/ Danh sách Trung khoa Nho học
3/ Danh sách Tiến sĩ Tân học

PHỤ LỤC
1. Tổ chức thờ cúng
2. Nghi thức
3. Gia phả
4. Gia ước
5. Tên và tỷ lệ sử dụng tên lót
6. Niên biểu các vương triều

TRANG THƠ

Tài liệu tham khảo

Advertisements

58 phản hồi to “6.Sách HỌ MAI VN”

  1. Người họ Mai Says:

    Chúng tôi rất vui mừng khi biết rằng họ Mai chúng ta đang biên soạn tập sách Họ Mai Việt Nam. Đây là việc làm mang nhiều ý nghĩa, không những tìm về cội nguồn của Họ Tộc mà còn là sự gắn kết họ Mai bốn phương lại với nhau. Xin mỗi người hãy góp một tay cho công việc chung này.

  2. Mai Hữu Phước Says:

    Gởi Người họ Mai
    Cảm ơn sự viếng thăm của bạn. Chúng tôi đang thực hiện trang web này để làm thông tin liên lạc và lưu giữ những thông tin về tộc họ của chúng ta. Hy vọng rằng đây sẽ là nơi liên kết người mang họ Mai trên cả nước và trên thế giới, cũng như nối vòng tay lớn với những tộc họ khác.

  3. Mai Hiển Cường Says:

    Ở Xã Trịnh Xá Huyện Bình Lục, Tỉnh Hà Nam cũng có dòng họ Mai rất lớn. Sao cháu không thấy trong cuốn sách ạ?

  4. Mai Quốc bảo Says:

    Xin kính gửi Ban liên lạc Họ Mai

    Con thật vui mừng khi biết đến trang web của dòng họ mình. Con ở quê Cầu Hai – Phú Lộc – Thừa Thiên Huế, tìm trong danh mục của dòng họ Mai không thấy chi nhánh của con. Không biết con thuộc chi nhánh nào trong danh mục đó. Ở Cầu Hai quê con chì có duy nhất Họ của con thôi.

    • mai le thai cung Says:

      chao anh(ban)minh cung la con chau ho mai ne,minh thuoc chi 2,o hoai nhon binh dinh.
      hien nay minh dang song va lam vieec tai Phu Bai-Hue.
      rat vui khi thay dong ho Mai chung ta co ca mot lich su lau dai va hoanh trang nhu the nay.
      neu co the,chung ta co the cfe va noi chuyen cung nhau ko,nam nay minh moi 29t thoi.
      ban xem trong sach Ho Mai VietNam,tr298,thi minh thuoc doi thu 13,doi 12 la Mai Nien(ong gia minh).

  5. Mai Quốc bảo Says:

    Đời ông nội của con là Mai Văn. Không biết gốc của nhánh Mai Văn hiện nay ở đâu? Xin ban liên lạc cho con được biết thông tin.

    Con chân thành cảm ơn

    • Mai Trọng Nhân Says:

      Trong sách HỌ MAI VIỆT NAM chúng tôi chỉ sưu tầm được 100 họ, họ của bạn chưa có trong sách, xin đề nghị bạn liên hệ với họ mình ở quê xúc tiến viết bài giới thiệu trên trang Web này để ban biên soạn có thể bổ sung tiếp nối. Tìm họ phải xuất phát từ lịch sử hình thành và phát triển, không thể từ chữ lót được, vì thế các họ phải tự giới thiệu về mình đã. Chúc bạn thành công trong việc tìm về cội nguồn.

    • maivantam Says:

      Mình là Mai Văn Tâm, hiện đang công tác ở tỉnh TT Huế. Sinh ra và lớn lên ở xã Phú Gia, huyện Hương Khê, Hà Tĩnh.Ở Hương khê cũng có nhiều người họ Mai nhưng không thấy tên tuổi họ Mai của dòng họ tôi. Ông cụ nhà tôi năm nay đã 92 tuổi nhưng ông không biết rõ nguồn gốc Chi họ Mai này bắt nguồn ở đâu do ngày ấy cực khổ quá và cha mẹ mất sớm nên không biết. Năm trước tôi có về quê mua quyển Gia Phả họ Mai ở Hương khê nhưng tìm mãi không thấy.Rất mong nhận được thông tin về nguồn cội của Chi này. Địa chỉ maivantam@yahoo.com.

  6. maihuuphuoc Says:

    Sach HO MAI VIET NAM ban dau duoc xay dung tu
    co so lien lac giua cac chi toc Ho Mai o Viet Nam va tren the gioi.
    qua cac nguon thong tin tren web va bao chi cung nhu truyen mieng
    ma tim cach lien lac voi nhau.

    Tu do so bo gia pha cac chi phai duoc tap hop, bien soan sua chua lai cho phu hop yeu
    cau cua sach. Do vay, cho den thoi diem hien tai sach khong the nao
    day du thong tin ve cac to ho duoc. Sach dang duoc bien tap an hanh vao dau nam den.

    Tren co so do, nhung lan tai ban den hy vong ho Mai Viet Nam duoc sum vay ngay cang dong
    vui hon.

    Trang web https://homaivietnam.wordpress.com
    dang duoc xay dung. Cac bai dua len trang nay la cac bai se in trong sach.
    Hay thuong xuyen vieng tham trang web de theo doi cac thong tin ve Ho Mai VN
    va nhung thong tin can thiet khac.

    Than men
    mhphuoc
    http://maihuuphuoc.wordpress.com
    P/s. Hay giu thong tin lien lac qua dia chi email ben duoi:
    -Email: mhphuoc@hotmail.com

  7. mai huy khuyen Says:

    toi rat vui khi chung ta bien soan ve ho Mai vn.toi rat tu hao va vui mung.cam on cac bac ,anh chi bien soan ve cuan sach nay.qua so luoc ve dong ho toi thay con thieu dong ho MAI O thai binh.ho mai o VU HOI-VU THU -THAI BINH la dong ho lon nhat nhi ,trai qua 16,17 doi nay.mong cac bac thm khao them va bo sung them .

  8. Mai hong Phong Says:

    toi rat hoan nghenh xuat ban cuon sach ho Mai viet nam
    ve hinh thuc va noi dung trinh bay sach la duoc.can co hinh anh minh hoa thi tot hon
    qua xem thong tin phan hoi cua anh em ho mai tren Website
    toi thay con thieu nhieu cac chi ho mai tren ca nuoc da gui thong tin len phahe.vn nhung chua duoc cap nhat
    de nghi ban bien tap bo xung vao tap sach cho day du.
    vi day co the noi la mot cong trinh khoa hoc cua Dong ho Mai
    Xin chao anh chi em ho Mai.

    Ha Long 12.2.2011 MHP

  9. MAI VĂN HÓA Says:

    BÁC Mai Hữu Phước xáo giùm 2 coment trên giùm nhé!
    nó cứ ra cái hình quảng cáo ghê quá !

  10. Mai Quốc Chinh Says:

    Chào các Bác trong Ban liên lạc họ Mai, Nhân dịp đầu năm Tân Mão, e kính chúc các Bác và gia đình một năm mới mạnh khỏe, hạnh phúc và thành công!
    E là Mai Trọng Chinh, quê ở xã Đào Viên, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Rất vui vì Dòng họ mình sau nhiều năm, với bao công sức của Ban Liên Lạc và của các bạn bè một lòng tâm huyết với họ Mai, đến nay cuốn Sách về dòng họ Mai đã sắp ban hành. Em rất tiếc là Dòng họ Mai ở Bắc Ninh chưa được đưa vào trong sách, cũng ngàn lần hy vọng như Bác Mai Trọng Nhân nói là dù “sót một họ lớn” nhưng sẽ nối bản sau cùng nhiều dòng họ Mai còn sót khác. Em xin thông tin sơ bộ về dòng họ như sau:
    Dòng họ Mai Trọng ở xã Đào Viên (Đào Tai cũ) hiện được hơn 24 đời từ cụ thủy tổ có hiệu là Mai Thất Tiên Sinh.
    Thủy tổ có hai người con:
    – Con cả Mai Bang: Đỗ tiến sỹ vào thế kỷ 15 làm đến chức Thượng Thư (có tên trong Bia đá Văn miếu QTG Hà Nội);
    – Con thứ là Mai Trung Cát.
    * Cụ Mai Bang có các con, cháu, chắt sau đỗ tiến sỹ và có tên trong Bia Tiến Sỹ Quốc Tử Giám:
    – Mai Khuyến – Mai Đài Công – Mai Trọng Hòa.
    Ở quê hương dòng họ được nhân dân tôn trọng suốt nhiều đời, trong địa phương có lưu truyền vinh danh dòng họ là: 3 ĐỜI ÁO ĐỎ; 7 ĐỜI ÁO XANH.
    Hiện nay e chưa có cụ thể các thông tin chính thức theo gia phả, Bác Trưởng dòng họ và các bậc cao niên đang viết sách để các trường tiểu học và trung học cơ sở ở Xã đưa vào dạy con cháu theo yêu cầu của UBND xã Đào Viên, và huyện Quế Võ. Năm 2006 Sở văn hóa tỉnh Bắc Ninh đã cấp bằng Di tích lịch sử cho đền thờ họ Mai Trọng (có bài vị của 5 vị Tiến sỹ) cũng đã có nhiều nhà nghiên cứu Lịch Sử về nghiên cứu các Bia Đá của dòng họ và dòng họ có được một số bản dịch khá chi tiết.
    Với thông tin sơ lược như trên, với ước mong được tìm rõ cuội nguồn để truyền đời cho con cháu được về đất tổ lễ bái Tổ tiên, nhận thêm họ hàng cho bề thế dòng họ, kính mong các Bác trong Ban Liên Lạc xem xét thông tin thêm cho e nhé.
    Em sẽ tập hợp thêm các tài liệu để đưa các thông tin cụ thể ngày tháng năm sinh, năm đỗ đạc, sự nghiệp của các Cụ khoa bảng nêu và các thông tin khác khi được các Bác hướng dẫn.
    Kính thư!
    Mai Trọng Chinh.
    ĐT: 0914128139
    Đ/c 151 ter Nguyễn Đình Chiểu, P6, Q3, TP. HCM

    • mai duc hanh Says:

      chau muon lien lac

    • mai Trọng Nhân Says:

      Chào anh Chính! Chúng tôi chờ các thông tin đầy đủ của anh để lập thành họ thứ 101, các thông tin chung về họ mai đã có trong sách HMVN rồi, hôm 12/3 ban biên soạn đã đại diện con cháu HMVN về Đất Tổ làm lễ dâng sách lên thượng thủy tổ MAT(xem bản tin trên web của họ). các thành viên của mỗi họ ở thành phố có điều kiện tiếp nhận thông tin chung trên mạng cần liên hệ ngay với các cụ ở quê để chủ động có phản ứng kịp thời, nếu được vậy thì chắc chắn sách HMVN sẽ có thêm nhiều họ trên số 100.

  11. Mai Khoa Thâu Says:

    xin kính chào Ban biên tập sách họ Mai và anh Mai Hữu Phước, em đọc các danh sách họ Mai ở trên em thấy còn thiếu họ : Mai Khoa ơ xã Đông Đô- Hưng Hà – Thái Bình.

    • Mai trọng Nhân Says:

      Chào anh Thâu, chúng tôi biết là sẽ thiếu, vì thông báo của chúng tôi trên mạng lâu rồi, người quan tâm hợp tác viết bài về họ mình thì ít. Họ anh cứ viết bài cho chung tôi để vào bản nối lần sau, chờ tin từ họ ta. Nhân.

  12. homaivietnam Says:

    Gởi Mai Quốc Chinh
    Hãy liên hệ tại địa chỉ sau đây để có được sách Họ Mai Việt Nam:
    Mai Xuân Tần:
    287 Điện Biên Phủ, P7, Q3, Tp. Hồ Chí Minh.
    Điện thoại : 0839307715/ 0913615389.
    Email: maixuantan24@yahoo.com
    …………….
    Nếu không tìm thấy thông tin phần tộc họ hoặc không đầy đủ hoặc có gì góp ý hãy gởi email đến quản trị web hoặc bất cứ người nào trong Ban biên soạn sách để trước mắt đưa vào phần bổ sung trên web và chờ đợi tái bản sách.

  13. Mai Huy Viện Says:

    Hôm nay, đóc xong cuốn sách họ Mai Việt Nam, tôi thấy quyền sách đầu ý nghĩa. Ban liên lạc rất công phu, đã cho ra đồi quyển sách giúp cho caon chấu khắc miọ miền đất nước và ở nước ngoại hiểu biết thêm về họ mình.đưa thông tin lên trang thông tin điện tử để con cháu biết về họ mình, bổ sung cho họ Ma để ngày càng hoàn thiện chính xác hơn.

  14. Mai văn lực Says:

    Sao tôi ko thấy nói j về họ Mai ở Ninh Bình vây?tôi thấy ở yên mô NB cũng có rất nhiều chi họ Mai mà.

    • Mai trọng Nhân Says:

      Chúng tôi nhận được khá nhiều câu hỏi sao họ tôi không có trong sách? Vậy ban Biên soạn cũng xin đặt câu hỏi sao họ mai ở Ninh Bình không cử người cộng tác viết bài gửi về Ban biên soạn ? Có tích cực hợp tác với nhau mới nên việc. Mong họ ta viết bài gừi ban BS để in nối bản tiếp theo. Nhân.

  15. Mai Thị Sáng Says:

    Cháu là một người họ Mai ở Quảng Giao, Quảng Xương, Thanh Hóa, có nguồn gốc từ Nga Sơn. Dòng họ cũng đã từng biết đến quá trình liên lạc, tìm kiếm và xây dựng nên gia phả dòng tộc lớn trên toàn quốc. Vì vậy, năm 2008, có người ra nhà bác Mai Vân ở Giáp Bát, đưa gia phả của nhánh họ Mai quê nhà để bác sưu tập và nhờ bác dịch sắc phong, câu đối nhà thờ tổ. Bác Mai Vân có nhắc đến Mai Trọng Nhân và Mai Hà tham gia công việc này. Vậy mà cháu không thấy danh sách chi nhánh họ Mai ở Quảng Xương ở trên, vì ở Quảng Xương còn có nhiều nhánh họ Mai khác nữa. Thật là thiếu sót. Nhờ các bác bổ sung thêm. Nhân đây, cháu xin gửi lời thăm sức khỏe tới bác Mai Vân và những người có tâm huyết với dòng tộc.

    • mai Trọng Nhân Says:

      Chào cô sáng! Xin giới thiệu tôi là chủ biên sách HMVN, nếu các tài liệu được chuyển tới tôi chắc chắn không thể sai sót như vậy, mong cô thông cảm. Nhân

    • Mai Văn Hoa Says:

      Thân gửi cô Mai Thị Sáng
      Chúng tôi: Mai Trọng Nhân, Mai Xuân Tần, Mai Văn Hoa là Ban Biên soạn sách Họ mai Việt Nam.
      Tôi ở Nghệ An, đã ra Thanh Hóa nhiều lần để tìm hiểu và thu thập tư liệu. Tôi đã rất muốn đến Quảng Xương, Tĩnh Gia, tuy nhiên chưa tìm được người dẫn đường (vì tìm được người hướng dẫn thì công việc tìm hiểu dễ thành công hơn. Người ta thường nói “Đất có thổ công, sông có hà bá” mà).
      Để có thêm tư liệu bổ sung cho sách của dòng họ, tôi nhờ cô Sáng làm đầu mối hướng dẫn (chỉ đường, các địa danh lân cận có nhiều họ Mai sinh sống). Nếu được, tôi sẽ thu xếp thời gian ra Quảng Xương.
      Cảm ơn cô Sáng đã quan tâm.

      • Mai Văn Hoa Says:

        Tôi xin giới thiệu bài tham luận của Giáo sư Phan Huy Lê, tại Hội thảo khoa học về cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan do trường Đại học Vinh cùng Viện Sử học Việt Nam tổ chức năm 2010 tại trường Đại học Vinh

        KHỞI NGHĨA MAI THÚC LOAN
        những vấn đề cần xác minh
        GS Phan Huy Lê

        1. Cơ sở dự liệu và những ghi chép khác nhau về khởi nghĩa Mai Thúc Loan
        Bộ sử xưa nhất của ta còn lưu truyền đến nay là Đại Việt sử lược, biên soạn vào khoảng đầu thời Trần, không chép về nhân vật Mai Thúc Loan và cuộc khởi nghĩa của ông.
        Bộ quốc sử đầu tiên chép về ông là Đại Việt sử ký toàn thư, phần Ngoại kỷ do Ngô Sĩ Liên biên soạn, được khắc in năm 1697, chỉ chép một đoạn vắn tắt:
        “Năm Nhâm Tuất [722] (Đường Huyền Tông Long Cơ, Khai Nguyên năm thứ 10), tướng giặc là Mai Thúc Loan chiếm giữ châu, xưng là Hắc Đế, bên ngoài liên kêt với người Lâm Ấp, Chân Lạp, số quân nói là 30 vạn. Vua Đường sai Nội thị Tả giám môn Vệ tướng quân là Dương Tư Húc và Đô hộ là Nguyên Sở Khách đánh dẹp yên được”. Rõ ràng Ngô Sĩ Liên đã tham khảo Đường thư và thiếu tinh thần phê phán đến mức độ gọi Mai Thúc Loan là “tướng giặc”.
        Bộ quốc sử thứ hai là Đại Việt sử ký tiền biên do Ngô Sĩ Liên biên soạn và con là Ngô Thì Nhậm dâng lên vua Tây Sơn Nguyễn Quang Toản và được khắc in năm 1800 như bộ chính sử của vương triều Tây Sơn. Về Mai Thúc Loan, bộ sử này chép: “Năm Nhâm Tuất [722] (Đường Huyền Tông Khai Nguyên năm thứ 10), bấy giờ người Hoan Châu Mai Thúc Loan chiếm cứ Hoan Châu, tự xưng Hắc Đế, bên ngoài liên kết với người Lâm Ấp, Chân Lạp, quân số có tới 30 vạn. Quân nhà Đường sai Nội thị Tả đô hộ là Nguyên Sở Khách dẹp yên được (Thúc Loan người Hương Lãm, huyện Nam Đường, nay có đền thờ ơt thôn Chợ Sa tức là nhà ông. Tư Húc tính tàn nhẫn, bắt được tù binh hoặc lột da mặt, hoặc bóc da đầu, mọi người đều khiếp sợ”.
        Bộ sử chép lời bàn của Ngô Thì Sĩ: “Đương lúc nội thuộc, Mai Hắc Đế ở Nam Đường khởi binh chiếm giữ châu, không chịu sự trói buộc của bọn quan lại bạo ngược, cũng là tay lỗi lạc trong bậc thổ hào. Thành công có Lý Bôn, Triệu Quang Phục; không thành công có Phùng Hưng, Mai Thúc Loan, họ đáng được nêu ra mà biểu dương. Nhưng sử cũ lại chép “tướng giặc” là sai lầm. Cho nên [tôi] sửa lời văn mà chép cho chữ “dân châu”.Ngô Thì Sĩ là nhà sử học có tinh thần phê phán đã đính chính những sai lầm trong sử cũ. Ông là tác giả bộ Việt sử tiêu án, trong đó nêu lên và bình luận những sai lầm kéo dài trong chính sử. Cũng với tinh thần đó, ông là người đầu tiên đã chỉnh sứaai lầm của Ngô Sĩ Liên gọi Mai Thúc Loan là “tướng giặc” và khẳng định vua họ Mai là một thổ hào lỗi lạc.
        Bộ quốc sử thứ ba là Khâm định Việt sử thông giám cương mục biên soạn từ năm 1856 đến 1884 thời Nguyễn, khắc in năm 1884. Về Mai Thúc Loan, bộ sử chép như sau:
        “Năm Nhâm Tuất [722] (Đường Huyền Tông năm thứ 10). Thánh 7, mùa thu, ở Hoan Châu, Mai Thúc Loan giữ lấy châu, tự xưng đế. Nhà Đường sai bọn Nội thị Dương Tư Húc sang đánh, phá được.
        Theo Đường thư, khoảng năm Khai Nguyên (713 – 741), An Nam có Mai Thúc Loan làm phản, tự xưng Hắc Đế, chiêu tập quân 32 châu, ngoài liên kết vớicác nược Lâm Ấp, Chân Lạp và Kim Lân, giữ vùng biển nam, quân số có đến 40 vạn. Tư Húc xin đi đánh, chiêu mộ 10 vạn quân, cùng với Quang Sở Khách tiến quân theo đường cũ của Mã Viện, nhân lúc bất ý sập đến đánh. Thúc Loan hoang mang nao núng, không kịp mưu tính cách đối phó, bị thua to. Tư Húc mới chôn những xác chết chung vào một nơi, đắp thành cái gò cao (kình quán) để ghi chiến công của mình, rồi rút quân về.”
        Bộ quốc sử thời Nguyễn không chỉtham khảo Đường thư và thư tịch Trung Quốc để chú thêm tiểu sử của Dương Tư Húc, Quang Sở Khách, lai lịch các nước Chân Lạp, Kim Lân; đường cũ của Mã Viện mà còn dựa vào tư liệu trong nước để chú về nguồn gốc quê quán của Mai Thúc Loan là “người Mai Phụ, huyện Thiên Lộc, thuộc Hoan Châu bây giờ thuộc huyện Can Lộc, phủ Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Thúc Loan người đen lắm nên người Hoan Châu gọi là Hắc Đế. nay còn vết thành cũ ở núi Vệ thuộc huyện Nam Đường và có đền thờ ở xã Hương lãm thuộc huyện ấy. Đền này được liệt vào hàng đền thờ đế vương các triều đại”.
        Những bộ sử sau đấy như Việt sử cương mục tiết yếu của Đặng Xuân Bản, Việt sử lược của Trần Trọng Kim … hay địa chí như Đại Nam nhất thống chí … đều dựa vào quốc sử để chép vắn tắt về cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan như trên.
        Các sách và giáotrình lịch sử Việt nam cho đến đầu những năm 70 của thế kỷ XX đều chép về cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan trên cơ sở những nguồn tư liệu trên, cho rằng cuộc khởi nghĩa bùng nổ năm 722, làm chủ châu Hoan và sau đó bị quân Đường đàn áp. Cũng có sách cho rằng Mai Thúc Loan đã tiến quân ra bắc chiếm được phủ thành, làm chủ An Nam một thời gian.
        Năm 1964 Trần Bá Chí công bố một số tư liệu khảo sát thực địa vùng Hà Tĩnh, Nghệ An gồm gia phả, thần tích, hát chầu văn chép trong Tiên chân báo huấn tân kinh tại đền thờ Mai Hắc Đế, truyền thuyết gắn liền với lễ hội dân gian … cùng một số di tích vật thể như thành Vạn An, đền thờ Mai Hắc Đế … Khai thác nguồn tư liệu này, một số sách sử làm rõ hơn nguồn gốc, quê hương mai Thúc Loan, nhấn mạnh thành phần xuất thân lao động nghèo khổ, coi chuyên đi phu gánh vải cống là nguyên do trực tiếp khởi đầu cuộc khởi nghĩa, sau chiếm Hoan Châu xây dựng căn cứ Sa Nam, từ đó mở cuộc tiến công làm chủ cả nước, nêu cao quy mô cuộc khởi nghĩa. Năm khởi nghĩa và năm thất bại vẫn coi là năm 720. Nhiều nhà sử học tiếp nhận nguồn tư liệu dân gia này và bổ sung vào công trình nghiên cứu thời Bắc thuộc. Sách giáo khoa phổ thông và đại học đều viết theo nguồn tư liệu bổ sung này.
        Năm 2003 tren báo Thế giới mới đăng tải một số bài của Lê Mạnh Chiến chất vấn và phê phán các nhà sử học, cho việc cống vải làkhông có cơ sở khoa học vì vảivung nam Trung Quốc nổi tiếng, việc vận chuyển quả vải tươi từ nước ta về kinh đô nhà Đường không thể thực hiện được, coi Mai Thúc Loan cùng đoàn phu chuyên chở vải cống bất bình nổi dậy là không đúng về nguyên nhâ khởi nghĩa …
        Năm 1997, Đinh Văn Hiến và Đinh Lê Yên xuất bản sách Mai hắc Đế , truyền thuyết và lịch sử, đã có công thu thập các tư liệu liên quan trong sử sách của ta, trong Tân Đường thư của Trung Quốcvà tư liệu tại các địa phương liên quan, từ đó đặt lại một số vấn đề như năm khởi nghĩa là năm 713 chứ không phải là năm 722, qui mô rất lớn của cuộc khởi nghĩa, quốc đô Vạn An, cuộc kháng chiến chống quân Đường … Cuốn sách đã thu hút được sự quan tâm của một số báo chí và một số người quan tâm đến lịc sử dân tộc, nhưng cũng có người coi đó là một cuốn sách kể chuyện nặng theo truyền thuyết nên chưa chú ý đến đề xuất có tính tính khoa học của tác giả. Năm 2007 tác giả mở trang Web về Mai Hắc Đế và khởi nghĩa Hoan Châu để vận động mở cuộc hội thảo về vấn đề này. Năm 2008 tác giả cũng đã viết thư cho Hộikhoa học lịch sử Việt Nam và đề nghị Hội cùng Tỉnh ủy Nghệ An tổ chức cuộc hội thảo để xác minh và kết luận các vấn đề đã được đặt ra về cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan. Thái độ của Hội Khoa học Lịch sử là luôn luôn khuyến khích, cổ vũ mọi sự tìm tòi, khám phá nhằm làm sáng rõ các vấn đề của lịch sử dân tộc và sẵn sàng phối hợp với các tỉnh, thành phố, các cơ quan khoa học tổ chức những cuộc hội thảo khoa học để góp phần xác minh các vấn đề lịch sử khi đã hội đủ các điều kiện khoa học cần thiết. Vì vậy chúng tôi rất hoan nghênh trường Đại học Vinh cùng Viện Sử học đứng ra tổ chức cuộc hội thảo về khởi nghĩa Hoan Châu hôm nay.
        Cách ghi chép và nhận định về khởi nghĩa Mai Thúc Loan tuy còn nhiều điểm khác nhau, nhưng điều đáng mừng là cơ sở tư liệu càng ngày càng được thu thập phong phú. Tựu trung gồm mấy loại chính sau đây:
        – Tư liệu trong thư tịch cổ của ta gồm cả chính sử, địa chí, văn bia, thần tích … Ngoài những bộ sử cũ đã sử dụng từ lâu, gần đây được khai thác thêm có An Nam chí lược của Lê Tắc, Việt điện u linh tập của Lý Tế Xuyên với bài tựa đề năm Khai Hựu thứ nhất (1329) và phần “tục bổ”, “tăng bổ”, “tân đính” về sau, trong đó có truyện “Hương Lãm Mai Đế ký”.
        – Tư liệu khảo sát và thu thập tại Nghệ An, Hà Tĩnh và một số địa phương liên quan gồm di tích đền thờ, thành lũy, thần tích, gia phả, truyền thuyết …
        – Tư liệu thư tịch cổ của Trung Quốc như Cựu Đường thư, Tân Đường thư …
        Trong nghiên cứu sử học, công tác sưu tầm, giám định và xử lý sử liệu giữ vai trò rất quan trọng. Mỗi loại tư liệu có đặc điểm riêng và do đó, giá trị thông tin cũng khác nhau, nhất là khi giữa các loại tư liệu đó có sự khác biệt, mà nhất thiết phải tiến hành phân tích, đối chiếu và rút ra những thông tin có độ tin cậy, có giá trị khoa học trong khi xử lý sử liệu và tiếp cận đối tượng nghiên cứu. Đặc biệt là mối quan hệ giữa truyền thuyết với lịch sử, vừa không đồng nhất truyền thuyết với lịch sử, coi mọi tình tiết của truyền thuyết đều là lịch sử, vừa không loại bỏ truyền thuyết như một nguồn sử liệu mang tính đặc trưng của văn học dân gian cần khai thác theo yêu cầu của phương pháp luận sử học.

        2. Các vấn đề cần xác minh

        2.1. Về quê hương và gia đình Mai Thúc Loan
        Từ thế kỷ XIX, sử quán triều Nguyễn đã ghi chú Mai Thúc Loan “người Mai Phụ huyện Thiên Lộc”. Căn cứ vào truyền thuyết, địa danh, lịch sử và thần tích địa phương, Mai Phụ là một địa danh vẫn tồn tại như một đơn vị hành chính cơ sở cho đến thời Nguyễn. Theo Các tổng trấn xã bị lãm thì vào đầu thời Nguyễn, Mai Phụ là một đơn vị hành chính cơ sở thuộc tổng Vĩnh Luật, huyện Thiên Lộc, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An. Trong cải cách hành chính năm 1831 vua Minh Mệnh chia đặt các tỉnh trong đó có tỉnh Hà Tĩnh gồm hai phủ Hà Hoa và Đức Quang. Năm 1853 vua Tự Đức bỏ tỉnh Hà Tĩnh lập đạo Hà Tĩnh gồm các huyện Thạch Hà, Cẩm Xuyên và Kỳ Anh. Năm 1875 vua Tự Đức lập lại tỉnh Hà Tĩnh như cũ, huyện Thiên Lộc năm 1861 đổi là Can Lộc. Trong Đồng Khánh dư địa chí biên soạn thời Đồng Khánh (1866 – 1888), Mai Phụ đổi tên là xã Mai Lâm thuộc tổng Vĩnh Luật, huyện Can Lộc, phủ Đức Thọ, tỉnh Nghệ An. Thời Pháp thuộc, cắt hai tổng Canh Hoạch và Vĩnh Luật của huyện Can Lộc nhập vào huyện Thạch Hà. Từ đó làng Mai Phụ thuộc huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Sau Cải cách ruộng đất, Mai Phụ đổi tên là Mai Thùy, rồi Mai Lâm thuộc xã Thạch Bắc, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh; từ năm 2008 là xã Mai Phụ, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Mai Phụ có thể hiểu theo nghĩa là “Gò Mơ” (tức Gò cây mơ) nhưng cũng có thể hiểu là “Gò họ Mai” như một địa danh chỉ các điểm tụ cư gắn với một dòng họ cư trú lâu đời, hoặcduy nhất hoặc giữ vai trò chi phối như: Mạc Xá, Dương Xá, Đàm Gia Loan … Trong trường hợp hiểu Mai Phụ là Gò họ Mai thì địa danh lịch sử này cho thấy họ Mai Đã định cư lâu đời và là dòng họ lớn của vùng đất này. Theo Thiên Nam ngữ lục, một bản sử ca thế kỷ XVII, nhà mẹ Mai Thúc Loan gần biển, làm nghề muối:
        Nhà gần bể khổ đã thay,
        Mẹ làm hàng muối đêm ngày khổ thân !
        Mai Phụ gần biển và sông Hộ Độ là vùng sản xuất muối lâu đời. Theo truyền thuyết , vì mang thai không chồng nên bà bị ruồng bỏ, phải trốn tránh, lưu lạc lên vùng Ngọc Trừng, huyện Nam Đường, nay thuộc xã Nam Thái, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An sinh sống bằng nghề lao động vất vả như hái củi,làm thuê. Mai Thúc Loan sinh ra trên đất Ngọc Trừng, lên mười tuổi, mẹ mất sớm. “mang thai thần kỳ” vốn là mô típ thường thấy của văn hóa dân gian về nguồn gốc của một số nhân vật lịch sử. Nhưng theo truyện Hương Lãm Mai Đế ký trong Việt điện u linh thìMai Thúc Loan có cha tên là Mai Sinh và mẹ họ Vương, thậm chí có thể coi như đặc trưng lưu truyền với những biến thái mang tính địa phương của loại hình văn học dân gian. Điều cần lưu ý là theo truyền thuyết thì Mai Thúc Loan sống lam lũ với nghề hái củi, chăn trâu, làm thuê nhưng cosức khỏe phi thường và giỏi vật.
        Nhưng theo Việt điện u linh thì sau khi mẹ mất, Mai Thúc Loan được người bạn của cha là Đinh Thế nuôi và gả con gái là Tô Ngọc cho. Nhờ lao động, gia đình trởnên khá giả, “gia sản ngày một nhiều, môn hạ ngày một đông”, và khi chuẩn bị khởi nghĩa “thực khách trong nhà có đến mấy nghìn người”. Việt điện u linh vốn là tác phẩm của Lý Tế Xuyên với bài tựa đề năm Khai Hựu thứ nhất (1329). Nhưng về sau tác phẩm được “tăng bổ”, “hiệu đính”, “tân đính” thêm và truyện Hương Lãm Mai Hắc Đế ký nằm trong bản Tân đính hiệu bình Việt điện u linh do Chư Cát Thị bổ sung với Bài tự dẫn viết năm Giáp Ngọ Cảnh Hưng thứ 35 (1774); Chư Cát Thị hiệu đính và tăng bổ trên cơ sở “để tâm rộng tìm các bậc ẩn dật, rộng nhặt khắp bách gia, đem đối chiếu so sánh, tìm ra phần chủ chốt, phàm những mơ hồ khó kê khảo, nếu viết được thì viết vào, nếu bỏ được thì bỏ đi, cốt sao cho ý tứ lưu loát, đầu đuôi khớp nhau, mạch lạc liên tụcđể thuận tiện cho việc xem, việc nghe vậy”. Như vậy truyện Mai Hắc Đế được bổ sung theo phương thức sưu tầm và có phần chỉnh sửa theo quan niệm của tác giả. Chư Cát Thị bổ sung truyện Mai Hắc Đế vào năm 1774 sau sự kiện lịch sử hơn nghìn năm. Nhưng xét về nguồn gốc tư liệu vẫn là từ truyền thuyết dân gian hay dã sử và có thể có một số tư liệu trong sử sách cổ và qua biên soạn của tác giả, đã được văn bản hóa vào thế kỷ XVIII. Đấy cũng là những thông tin cần tham khảo, nhưng nhất thiết phải đối chiếu với những nguồn tư liệu khác.
        Tôi chưa rõ nguồn gốc tư liệu nào nhưng từ năm 1958 GS Đào Duy Anh đã coi Mai Thúc Loan là một “hào trưởng”. Trong thư tịch cổ Trung Quốc, chép Mai Thúc Loan là “An Nam Man cừ” (Tân Đường thư, Q.207; Tục tư trị thông giám tường biên, Q.279; Tống sứ giám, Q.58; Tống danh thần tấu nghị, Q.62), “An Nam thủ lĩnh” (Cựu Đường thư, Q.184; Sách phủ nguyên qui, Q.667; Quảng Tây thông chí, Q. 90), “An Nam tặc soái” (Cựu Đường thư, Q.8, khảo chứng), “An Nam nhân” (Tân Đường thư, Q.5; Khâm định tục thông chí, Q.6). Các sách đều chép tên ông là Mai Thúc Loan, riêng Cựu Đường thư chép là Mai Huyền Thành hay Mai Nguyên Thành. Trong các danh xưng trên thì đáng lưu ý là “Man cừ”, “thủ lĩnh” cho thấy trong mắt đối phương Mai Thúc Loan là một “tướng giặc” nhưng là người có uy tín, có ảnh hưởng ở An Nam.

        2.2. Nguyên do khởi nghĩa và vấn đề cống quả vải
        Sau khi công bố những truyền thuyết về Mai Thúc Loan phải đi phu chuyển vải cống, đã vận động đoàn phu nổi dậy chống Đường, thì nhiều sách đã bổ sung thêm tình tiết này vào lịch sử. Từ đó người ta nêu lên hai vấn đề:
        – Phải chăng nguyên nhân của khởi nghĩa Mai Thúc Loan chỉ thu hẹp lại trong sự bất bình của đoàn phu cống vải ?
        – Chuyện nộp vải cống có đáng tin hay không khi ở vùng nam Trung Quốc có nhiều loại vải ngon nổi tiếng và ở nước ta, cây vải tập trung ở miền đông bắc đồng bằng và trung du Bắc Bộ, trong đó vải Thiều là giống nhập từ nam Trung Quốc. Còn vùng Hoan Châu (Nghệ An) thì không thể có cây vải ?
        Về nguyên nhân khởi nghĩa, có lẽ không một nhà sử học hay người có hiểu biết về lịch sử lại có thể nghĩ đơn giản rằng cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan chỉ xuất phát từ sự bất bình của đoàn phu cống vải và như thế thì làm sao giải thích được sự tham gia, hưởng ứng rộng rãi của các tầng lớp xã hội thời bấy giờ. Một số nhà sử học đưa thêm truyền thuyết này, trong đó có tác giả nói rõ là theo truyền thuyết, cũng chỉ bổ sung thêm một tình thế và nguyên do trực tiếp mà Mai Thúc Loan đã khai thác để phát động cuộc khởi nghĩa. Vì vậy tác giả nào qui nguyên nhân của cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan chỉ vào sự bất bình phản kháng của đoàn phu cống vải thì dĩ nhiên là một sai lầm về lý luận cũng như thực tế lịch sử. Cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan có cội nguồn sâu xa trong chế độ bóc lột, áp bức của nhà Đường, trong tình hình kinh tế xã hội và những mâu thuẫn giữa các tầng lớp nhân dân ta với chính quyền đô hộ.
        Còn việc trồng vải thời bấy giờ đã có chưa thì không nên lấy bản đồ thực vật hiện đại để áp đặt vào thời xa xưa, đã cách ngày nay 12 thế kỷ. Theo kết quả khai quật khảo cổ học thì trong một số di tích văn hóa Đông Sơn đã tìm thấy hạt vải cùng hạt trám, hạt na, hạt cau… Như vậy từ thời cổ đại, vào những thế kỷ trước CN Người Việt đã phát triển nghề làm vườn, trồng nhiều loại cây ăn quả, trong đó có cây vải. Đại Việt sử lược có lẽ là bộ sử đầu tiên của nước ta chép tên quả vải (lệ chi) vào năm Kiến Gia thứ 8 đời vua Lý Huệ Tông (1218): “Vua ngự đến Cựu Kinh (Thăng Long) ăn quả vải”. Chính sử cũng ghi chép vào thế kỷ XV đã có địa danh mang tên Lệ Chi viên (vườn vải, nay tại xã Đại Lại, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh), nơi năm 1442 vua Lê Thái Tông từ trần đột ngột và bọn quyền thần đã lựoi dụng dựng lên vụ án thảm khốc tru di cả nhà nGuyễn Trãi, một anh hùng dân tộc, một danh nhân văn hóa thế giới. Trong lịch sử cổ, từ Dư địa chí của Nguyễn Trãi thế kỷ XV đã nói đến quả vải ở xã Quang Liệt, đạo Sơn Nam, đến Vân Đài loại ngữ của Lê Quý Đôn thế kỷ XVIII đã khẳng định “nước Nam nhiều vải nhất”, nổi tiếng là vùng An Nhân, huyện Đường Hào, Đại Nam nhất thống chí của triều Nguyễn thế kỷ XIX cũng nói đến quả vải như một đặc sản của vùng huyện Đường Hào, Đông Triều … Như vậy cây vải đã có mặt ở nước ta từ lâu đời, ít nhất là từ thời kỳ văn hóa Đông Sơn và đi vào địa danh lịch sử, thư tịch cổ từ thế kỷ XIII, thế kỷ XV. Tất nhiên, bên cạnh cây vải bản địa, chưa rõ thời điểm nào, dân ta còn du nhập thêm giống vải thiều ở miền nam Trung Quốc.
        Trong lịch sử, bản đồ thực vật, do thay đổi khí hậu kết hợp với điều kiện thổ nhưỡng, môi trường, sinh thái và sự thiên di của con người cùng sự di chuyển của loài chim, một số động vật ăn hoa quả, sự phân bố các giống cây thường có sự thay đổi về địa bàn theo hướng lan tỏa hay thu hẹp và có sự chuyển dịch trung tâm. Biết bao dẫn chứng có thể nêu lên như cây ngô, cây khoai tây, cây mít … trong quá khứ và ngày nay thì sự mở rộng hay thay đổi địa bàn phân bố thực vật càng có nhiều chuyển biến do con người chọn và nhập giống cây trồng.
        Ngày nay, tại Nghệ An, Thanh Hóa nhiều vùng vẫn còn loại vải chua hay vải rừng, nhiều nhà vẫn trồng trong vườn như một loại cây ăn quả, chứng tỏ vùng này từ xa xưa đã có cây vải, chưa kể giống vải mới đưa từ bắc vào gần đây. Cho đến nay, dân vùng Nam Đàn xứ Nghệ vẫn còn lưu truyền ba đặc sản quê hương qua câu: “Nhãn lồng, vải tiến, cá rô Bàu Nón” nhưng không rõ vào thời gian nào. Như vậy trên đất nước ta từ thời cổ đại, người Việt đã biết trồng vải và nghề trồng vải phát triển liên tục cho đến ngày nay.
        Trong thư tịch cổ của Trung Quốc cũng ghi nhận, trong thời Bắc thuộc, từ thời Tây Hán, vải và nhãn là những sản phẩm nổi tiếng Giao Chỉ và Cửu Chân. Sách Nam phương thảo mộc trạng do Kế Hàm soạn năm Vĩnh Hưng thứ 1 (322) đời Đông Tấn (317 – 420), cho biết năm Nguyên Đình thứ 6 (111 TCN) Hán Vũ đế sau khi đánh bại Nam Việt, lập cung Phù Lệ đem 100 cây vải từ Giao Chỉ về trồng ở sân, nhưng không cây nào sống. Sau nhiều năm liền đem cây vải về trồng, cuối cùng chỉ có một cây hơi xanh tốt nhưng không có hoa quả. Nhà vua tiếc và bất bình, sai giết người trông nom đến vài chục và từ đó bắt cống nộp hàng năm (tuế cống). Đoạn văn này đã được trích dẫn trong nhiều sách nên tôi chỉ tóm lược như trên. Vấn đề gây tranh cãi là Giao Chỉ ở đây là quận Giao Chỉ miền bắc nước ta hay bộ Giao Chỉ bao gồm cả miền Lĩnh Nam ở nam Trung Quốc. Triệu Đà sau khi đánh chiếm nước Âu Lạc, đã lập 2 quận Giao Chỉ (Bắc Bộ) và Cửu Chân (bắc Trung Bộ). Năm 111 TCN nhà Hán đánh chiếm nước Nam Việt, lập ra các quận Nam Hải, Thương Ngô, Quế Lâm, Hợp Phố, Chu Nhai, Đạm Nhĩ, Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam là miền bắc Lâm Ấp (khoảng trung Trung Bộ từ Hoành Sơn đến Quảng Nam) do quân Hán mới chiếm thêm. Năm Nguyên Phong thứ 5 (106 TCN) nhà Hán mới lập Giao Chỉ bộ quản lý cả 9 quận do chức Thứ sử đứng đầu. Như vậy Giao Chỉ do Nam phương thảo mộc trạng chép vào năm Nguyên Đình thứ 6 (111 TCN), là quận Giao Chỉ thuộc miền Bắc nước ta, chứ không phải là bộ Giao Chỉbao gồm cả miền nam Trung Quốc lập sau đó, vào năm Nguyên Phong thứ 5 (106 TCN). Hơn nữa, Nam phương thảo mộc trạng sao đó, còn chép thêm: “Ngụy Văn đế (220 – 226) hạ chiếu cho quần thần rằng, quả phương nam, loại quý lạ là long nhãn, lệ chi lệnh hàng năm nộp cống là xuất từ Giao Chỉ, Cửu Chân”. Cây vải không những có ở Giao Chỉ mà cả ở Cửu Chân tức vùng Thanh, Nghệ, Tĩnh hiện nay, thời đó đã có cây vải và lệ cống vải bao gồm cả vùng này. Cây vải rừng hay vải chua còn trồng ở vùng Thanh Hóa, Nghệ An ngày nay đãcó nguồn gốc lâu đời.
        Chế độ cống nộp là phương thức bóc lột mà chính quyền đô hộ đã thực hiện từ thời thuộc Hán. Cống phẩm bao gồm những loại sản vật quý như ngà voi, sừng tê, châu ngọc, hương liệu … và cả một số sản phẩm nông nghiệp nhiệt đới như cam, quít, nhãn, vải … Các nguồn tư liệu thư tịch đáng tin cậy của Trung Quốc khẳng định chế độ cống nộp các loại quả trên. Còn cách bảo quản và vận chuyển như thế nào lại là vấn đề khác cần nghiên cứu thêm và cần sự hợp tác liên ngành của nhiều ngành khoa học liên quan. Trong lịch sử biết bao vấn đề do sử sách ghi chép hoặc di tích còn tồn tại đến nay mà việc giải thích về kỹ thuật và công việc thực hiện nói chung vẫn là câu hỏi đặt ra cho khoa học, như Kim Tự tháp, Vạn Lý trường thành … trên thế giới và ngay ở nước ta như thành Tây Đô (thành Nhà Hồ, Thanh Hóa) với những khối đá trên dưới 10 tấn, chỉ xây trong 3 tháng năm 1397, tháp Chăm dọc miền trung, kỹ thuậtnung và ghép gạch như thế nào …
        Sau thời thuộc Hán, chế độ phu thuế càng ngày càng phát triển và thu hẹp dần chế độ cống nộp, nhưng cho đến thời thuộc Đường, chế độ cống nộp vẫn còn, kể cả cống quả vải từ vùng Lĩnh Biểu (miền nam Trung Quốc). Theo kết quả tra cứu của tôi thì vào thời thuộc Đường, không tìm thấy một tư liệu đáng tin cậy nào về chế độ cống vải từ Giao Châu hay An Nam, tức từ nước ta. Còn việc cống vải cho Dương Quý Phi xẩy ra sau khởi nghĩa Mai Thúc Loan và là vải của vùng Lĩnh Nam, từ Quảng Châu, Nam Hải của Trung Quốc. Vì vậy câu chuyện Mai Thúc Loan đã từng đi phu cống vải là thuộc phạm trù truyền thuyết dân gian và bài hát chầu văn kể chuyện cống vải, xét về thể loại văn học chỉ mới xuất hiện khoảng một vài thế kỷ gần đây. Câu chuyện dân gian đó chỉ có ý nghĩa phản ánh chế độ lao dịch nặng nề thời bấy giờ. Vì vậy, sau khi Khúc Thừa Dụ giành lại chính quyền tự chủ, con là Khúc Hạo kế vị đã tiến hành cải cách, trong đó có chủ trương “tha bỏ lực dịch” cho nhân dân. Theo tôi, đã đến lúc cần loại bỏ việc cống vải thời thuộc Đường và nhất là ý kiến coi chế độ đi phu cống vải là nguyên nhân của cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan, ra khỏi lịch sử nước ta thời Bắc thuộc.

        2.3. Về năm khởi nghĩa
        Chính sử và hầu hết các bộ lịch sử Việt Nam cho đến nay vẫn chép là năm Khai Nguyên thứ 10 (722). Nguyễn Lương Bích và Trần Cương là những nhà khoa học đầu tiên đã nêu và đính chính niên đại này, nhưng chưa chứng minh rõ ràng và do đó, chưa được mấy người quan tâm và ủng hộ. Cần xác nhận Đinh Văn Hiến và Đinh Lê Yên là hai tác giả đã nêu vấn đề này lên trong dư luận như một yêu cầu phải xác minh với việc xuất bản cuốn sách Mai Hắc Đế, truyền thuyết và lịch sử cùng nhiều bài báo đăng tải trên báo chí. Tôi có theo dõi thông tin này nhưng chưa có dịp kiểm tra lại các tư liệu liên quan và đến hội thảo này mới bày tỏ thái độ sau khi đã xem xét, giám định lại các tư liệu.
        Trước hết, xem lại ghi chép trong chính sử của ta từ Đại Việt sử ký toàn thư đến Khâm định Việt sử thông giám cương mục đều dựa theo thư tịch Trung Quốc, chủ yếu là Đường thư. Điều đó cũng dễ hiểu vì mãi đến thời Lý, Trần nước ta mới có những bộ sử đầu tiên mà nay đều thất truyền, duy bộ Đại Việt sử lược cũng tìm thấy ở Trung Quốc và đến đời Thanh mới đưa vào Tứ khố toàn thư với tên sách là Việt sử lược. Nhưng còn hai tác phẩm tác giả người Việt viết mà trước đây ít người khai thác về khởi nghĩa Mai Thúc Loan là An Nam chí lược và Việt điện u linh.
        An Nam chí lược do Lê Tắc (có âm là Trắc) biên soạn trong thời gian sống lưu vong trên đất Nguyên. Theo giám định của Trần Kinh Hòa, Lê Tắc biên soạn trong khoảng 1285 – 1307, sau đó bổ sung cho đến 1339 mới xong. Bộ sử này có nhiều truyền bản và đời Thanh đã được đưa vào Tứ khố toàn thư, trong phần “Sử hộ, tải ký loại”. Trong quyển 9 viết về các quan đô hộ, kinh lược An nam thời Đường, có đoạn chép về “Nguyên Sở Khách” như sau: “Người Giang Lăng, năm đầu niên hiệu Khai Nguyên đổi làm An Nam đô hộ, cùng Dương Tư Húc dẹp yên cuộc nổi loạn của người Man là Mai Thúc Loan”. Nguyên Sở Khách là Quang Sở khách được chép thống nhất trong Đường thư cũng như chính sử của ta, có thể vì tự dạng gần giống nhau nên chép nhầm.
        Hương Lãm Mai Đế ký trong Tân đính hiệu bình Việt điện u linh cũng chép: Mai Thúc Loan khởi nghĩa, chiếm châu huyện và xưng đế vào “năm Quý Sửu mùa hạ, tháng tư, vào thời Đường Huyền Tông, niên hiệu Khai Nguyên thứ nhất vậy”. Đây là chuyện bổ sung của Chư Cát Thị vào năm Cảnh Hưng thứ 35 (1774).
        Như vậy là hai tác giả người Việt; Lê Tắc vào đầu thế kỷ XIV và Chư Cát Thị vào giữa thế kỷ XVIII, đã đưa ra một niên đại thống nhất cho cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan vào năm Khai Nguyên thứ nhất. An Nam chí lược ghi là “Khai Nguyên sơ” và Việt điện u linh ghi rõ cả niên hiệu là năm Khai Nguyên thứ nhất và cả năm theo can chi là năm Quý Sửu (713). Vua Đường Minh Hoàng (712 – 756), có 3 niên hiệu đầu tiên là Tiên Thiên (712 – 713), niên hiệu thứ hai là Khai Nguyên (713 – 742) và niên hiệu thứ ba là Thiên Bảo (742 – 756). Khai Nguyên năm đầu là năm 713.
        Trong thư tịch Trung Quốc thì Tân Đường thư và Cựu Đường thư, phần bản kỷ, đều chép cuộc khởi nghĩavào năm Khai Nguyên thứ 10 (722).
        Cựu Đường thư do Lưu Hướng (có âm là Húc) biên soạn vào đời Hậu Tấn (936 – 947). Phần bản kỷ chép: “[Khai Nguyên] năm thứ 10, tháng 8, Án sát Lĩnh Nam là Bùi Trục Tiên tâu, tướng giặc An Nam là bọn Mai Thúc Loan vây đánh châu huyện. Sai Phiêu kỵ tướng quân kiêm Nội thị Dương tư Húc đánh dẹp”.
        Tân Đường thư do Âu Dương Tu và Tống Kỳ biên soạn vào đời Tống (960 – 1279). Phần bản kỷ chép: “[Khai Nguyên] năm thứ 10, tháng 7, người An nam là Mai Thúc Loan làm phản, bị giết”.
        Trước đây, các tác giả Việt Nam chỉ tham khảo phần bản kỷ của Đường thư nên đều chép cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan bùng nổ năm Khai Nguyên thứ 10 (722). Nhưng nếu tra cứu kỹ thì Cựu Đường thư; phần liệt truyện, mục Hoạn quan có truyện Dương Tư Húc lại chép: “Dương Tư Húc vốn họ Tô người Thạch Thành thuộc La Châu, làm nội quan (hoạn quan), được họ Dương nuôi rồi thiến làm việc ở Nội thị tỉnh … Tư Húc có sức khỏe, tàn bạo, hiếu sát, theo Lâm Truy vương giết họ Vi, rồi theo vua làm vũ sĩ nanh vuốt, đổi làm Hữu giám môn Vệ tướng quân. Khai Nguyên năm đầu, thủ lĩnh An Nam Mai Huyền Thành làm phản tự xưng Hắc Đế, cùng nước Lâm Ấp, Chân Lạp thông mưu hãm An Nam phủ. Sai Tư Húc đem binh đánh dẹp. Tư Húc đến Lĩnh Biểu, chiêu mộ con của các thủ lĩnh được binh mã hơn 10 vạn, theo đường cũ của Phục Ba mà tiến đánh xuất kỳ bất ý. Huyền Thành nghe tin sợ hãi, không kịp đề ra mưu kế, nên bị quan quân bắt, chém tại trận, giết hết bọn chúng, chất thây làm kình quán rồi rút về”.
        Tân Đường thư, phần liệt truyện, truyện Dương Tư Húc cũng chép tương tự: “Dương Tư Húc người Thạch Thành thuộc la Châu, vốn họ Tô, theo họ cha nuôi. Lúc trẻ làm ở Nội thị tỉnh, theo Huyền Tông đánh dẹp nội loạn, được phong Tả giám môn Vệ tướng quân, vua coi là vũ sĩ nanh vuốt. Khai Nguyên năm đầu, thủ lĩnh người Man ở An Nam (An nam man cừ) là Mai Thúc Loan làm phản, xưng Hắc Đế, dấy dânchúng 32 châu, bên ngoài liên kết với các nước Lâm Ấp, Chân Lạp, Kim Lân chiếm giữ vùng Hải Nam, quân chúng có 40 vạn. Tư Húc xin cho chiêu mộ con em các thủ lĩnh được 10 vạn cùng An nam đại đohộ Quang Sở Khách theo đường cũ của Mã Viện, bất ngờ đánh, giặc sợ hãi, không kịp mưu tính, bị thua to, chất thây làm kình quán rồi rút quân về”.
        Phân tích các tư liệu trên có thể hiểu cuộc khởi nghĩabùng nổ năm Khai Nguyên đầu, nhưng đến năm Khai Nguyên thứ 10 (722), quân Đường mới tổ chức phản công chiếm lại An nam. Do đó, trong phần bản kỷchép theo biên niên, sử nhà Đường chép theo niên đại của sự kiện phản công và chép cuộc khởi nghĩa vào cùng năm đó như nguyên nhân của cuọc chinh phạt. Hai sự kiện khởi nghĩa Mai Thúc Loan và phản công của nhà Đường, chép chung vào một đoạnvà xếp vào niên đại của cuộc phản công. Trong Cựu Đường thư và Tân Đường thư, năm Khai Nguyên đầu, phần bản kỷ, không chép cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan mà chép năm Khai Nguyên thứ 10 khi nhà Đường phái quân sang đàn áp. Rõ ràng trong năm Khai Nguyên thứ 10 (722), không thẻvừa nghe báo có cuộc làm phản của Mai Thúc Loan mà lập tức sai tướng sang đàn áp, vừa điều binh, chuẩn bị lương thảo, dừng lạiở Lĩnh Biểu để chiêu mộ các con em các thủ lĩnh, vừa tiến công đánh bại đối phương ở An Nam phủ, tất cả chỉ diễn ra từ khi khởi nghĩa bùng nổ vào tháng 7 hay tháng 8 đến hết năm đó nghĩa là trong vòng 4 – 5 tháng. Nhưng trong truyện Dương Tư Húc là tướng chỉ huy cuộc phản công thì hai sự kiện – khởi nghĩa và đàn áp, mới được táchra với hai niên đại khác nhau. Nhận định này càng được minh chứng thêm bằng một số tư liệu khác trong thư tịch cổ của Trung Quốc.
        Sách phủ nguyên quy là bộ sách lớn biên soạn từ năm Tống Chân Tông năm Cảnh Đức thứ 2 (1005) cho đến năm Đại Trung Tường Phủ thứ 6 (1013), trong 8 năm mới xong. Bộ sách gồm1.000 quyển cùng với bộ Thái Bình ngự lãm, Thái Bình quảng ký, Van uyển anh hoa, được coi là “Tống đại tứ đại bộ thư” (bộ sách lớn đời Tống). Đoạn chép về Dương Tư Húc như sau: “Thời Đường Huyền Tông, Dương Tư Húc làm Hữu giám môn Vệ tướng quân, Khai Nguyên năm đầu, thủ lĩnh An Nam là Mai Huyền Thành làm phản, tự xưng Hắc Đế cùng nước Lâm Ấp, Chân lạp thông mưu hãm An nam phủ …”.
        Quảng Tây thông chí do Hoàng Tá soạn và Lâm Phú tu sửa vào năm Gia Tĩnh (1522 – 1567) đời Minh (1368 – 1644), gồm 128 quyển. Bản in Quảng Tây thông chí trong Tứ khố toàn thư chép truyện Dương Tư Húc gần như trong Tân Đường thư: “Dương Tư Húc người Thạch thành thuộc la Châu, vốn họ Tô, được nội quan họ Dương nuôi để thiến làm Cấp sự nội thị tỉnh, tham dự việc giết họ Vi có công, đổi làm Hữu giám môn Vệ tướng quân, Khai Nguyên năm đầu, thủ lĩnh An Nam mai Thúc Loan làm phản, xưng hiệu Hắc Đế …”.
        Lê Tác khi soạn An Nam chí lược chắc dựa trên tư liệu thư tịch Trung Quốc. Còn Hương Lãm Hắc Đế ký của Chư Cát Thị dựa vào các tư liệu trong nước, trong đó có truyền thuyết và những tư liệu từ “các bậc ẩn dật”, “bách gia” mà không ghi xuất xứ. Từ phân tích sửliệu của ta và Trung Quốc, có thể rút ra nhận định cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan bùng nổ năm Khai Nguyên đầu, chứ không phải năm Khai Nguyên thứ 10 (722) như đã ghi chép phổ biến trước đây.
        Chỉ còn một tiểu tiết về thời gian cần xác định rõ. Cách ghi chép niên đại trong sử cũ thường dùng niên hiệu, có khi kết hợp cả năm can chi. Hầu hết thư tịch của Trung Quốc đều chép “Khai Nguyên sơ”. Chữ “sơ” theo Tứ hải có 4 nghĩa: (1) khởi đầu, lần thứ nhất, (2) ban đầu, đương sơ, (3) thấp nhất như sơ cấp, (4) chỉ ngày đầu của tháng hay khởi đầu của 10 ngày (10 ngày là một tuần) như sơ nguyệt, sơ thập … Trong sử biên niên, khi mở đầu một năm theo niên hiệu, ví dụ niên hiệu Khai Nguyên năm thứ nhất thường viết là: “Khai Nguyên nguyên niên” rồi năm thứ hai là “Khai Nguyên nhị niên” … Nhưng trong một đoạn văn khi viêt “Khai Nguyên sơ” có nghĩa là đầu niên hiệu Khai Nguyên tức là năm Khai Nguyên thứ nhất. Cũng có người hiểu “Khai Nguyên sơ” là những năm đầu của niên hiệu Khai Nguyên (713 – 744). Nhưng Hương Lãm Hắc đế ký của Việt điện u linh viết rõ Khai Nguyên năm thứ nhất kèm theo năm can chi là năm Quý Sửu (713). Như vậy có thể xác đinh niên hiệu “Khai Nguyên sơ” là năm Khai Nguyên thứ nhất, ứng với năm can chi là năm Quý Sửu (713). Do đó sự phù hợp, thống nhất giữa niên hiệuvà năm can chi.

        2.4. Qui mô và sự thành bại của cuộc khởi nghĩa
        Sự ghi chép của nhiều tác phẩm trước đây cho rằng cuộc khởi nghĩa bùng nổ và thất bại trong năm 722 và gần như chỉ giới hạn trong vùng Hoan Châu. Nhưng nhiều tư liệu cho thấy qui mô to lớn của cuộc khởi nghĩa. Theo chính sử nhà Đường, Mai Thúc Loan “làm loạn”, “vây đánh châu huyện” (Cựu Đường thư, Q.8), “tự xưng Hắc Đế” (Cựu Đường thư, Q.184), “đặt hiệu Hắc Đế” (Tân Đường thư, Q.207); “dấy dân chúng 32 châu” (Tân Đường thư,Q.207), “bên ngoàiliên kết với các nước Lâm Ấp, Chân lạp, Kim Lân, chiếm giữ vùng Hải Nam (vùng biển nam ?), quân chúng 40 vạn” (Tân Đường thư, Q.207), “mưu hãm An nam phủ” (Cựu Đường thư, Q.184; Sách phủ nguyên qui, Q.667).
        Nước ta thời thuộc Đường, năm Vũ Đức thứ 5 (630) đặt Goa Châu tổng quản phủ cai quản 10 châu là: Giao, Phong, Ái, Tiên, Diên, Tống, Từ, Hiểm, Đạo, Long. Năm Điều Lộ thứ 1 (679) đổi Giao Châu đô đốc phủ làm An Nam đô hộ phủ. Các đơn vị hành chính của An nam qua nhiều lần thay đổi, nhưng vào khoảng khởi nghĩa Mai Thúc Loan, chia làm 12 châu: Giao, Lục, Phong, Ái, Hoan, Diễn, Trường, Phúc Lộc, Thang, Chí, Vũ Nga, Vũ An. Ngoài ra phía nam Hoành Sơn, nhà Đường còn đặt châu Lâm, Ảnh và rất nhiều châu ki mi ở miền núi, đến trên dưới 40 châu. Riêng Hoan Châu, năm Vũ Đức thứ 5 (630) đặt Nam Đức châu tổng quản phủ cai quản 8 châu: Đức, Minh, Trí, Hoan, Lâm, Nguyên, Cảnh, hải. Châu Nam Đức quản 6 huyện. Năm Vũ Đức thứ 8 (633) đổi làm Đức Châu. Năm Trinh Quán thứ 1 (649) đổi làm Hoan Châu, lấy Hoan Châu cũ làm Diễn Châu. Năm thứ 2 (650) đặt Hoan Châu đô đốc phủ, lãnh 8 châu: Hoan, Diễn, Minh, Trí, Lâm, Nguyên, Cảnh, hải. Năm thứ 12 (660), bỏ 3 châu: Minh, Nguyên, hải. Đó là các đơn vị hành chính của Hoan Châu trước khởi nghĩa Mai Thúc Loan. Hoan Châu là một châu gồm 4 huyện (Cửu Đức, Phố Dương, Việt Thường, và Hoài Hoan) thuộc nam Đức châu tổng quản phủ rồi đổi thành Hoan Châu đô đốc phủ gồm 8 châu. Vì vậy rất khó xác định 32 châu mà Mai Thúc Loan đã dấy quân, nhưng chắc chắn đó là vùng rộng lớn vượt ra ngoài phạm vi Hoan Châu (vùng Nghệ Tĩnh), có thể bao quát gần như cả nước, nhất là vùng đồng bằng và trung du, bao gồm cả một số châu ki mi ở miền núi.
        Lâm Ấp là vương quốc đã từng bị nhà Hán đô hộ và giành lại độc lập vào khoảng cuối thế kỷ II sau cuộc khởi nghĩa do Khu Liên cầm đầu ở huyện Tượng Lâm (vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định) thuộc quận Nhật Nam (vùng đất từ Hoành Sơn đến Cù Mông). Sau đó Lâm Ấp đã mở rộng lãnh thổ ra phía bắc đến Hoàng Sơn. Tại vùng biên giới phía bắc Lâm Ấp giáp Giao Châu đời Tùy, An Nam thời Đường đã diễn ra nhiều cuộc tranh chấp ác liệt. Năm 446 Thứ sử Giao Châu là Đàn Hòa Chi tiến công vào quốc đô Lâm Ấp, cướp nhiều của cải châu báu. Năm 605 tướng Lưu Phương nhà Tùy sau khi đánh bại nước vạn Xuân của người Việt, tiến công vào quốc đô Lâm Ấp, chiếm một phần đất phía bắc, lập ra 3 châu: Đăng Châu, Nông Châu, Xung Châu, sau đổi thành 3 quận: Tỷ Cảnh, Hải Âm, Lâm Ấp. Nhưng rồi Lâm Ấp chiếm lại vùng này và vào thời Mai Thúc Loan khởi nghĩa, Hoành Sơn là biên giới phía bắc. Như thế Hoan Châu phía nam giáp với Lâm Ấp và trong bối cảnh mâu thuẫn giữa nhà Đường – Lâm Ấp thì Mai Thúc Loan liên kết với nước này trong cuộc đấu tranh chống Đường là điều có thể xẩy ra.
        Chân Lạp vốn là một thuộc quốc của đế chế Phù Nam, từ thế kỷ VI – VII trở nên cường thịnh đã đánh bại Phù Nam, phát triển thành một quốc gia độc lập. Từ đầu thế kỷ VIII, Chân Lạp phân chia thành 2 vùng: Thủy Chân Lạp ở phía nam là vùng đất thấp, nhiều đầm lầy, giáp biển và Lục Chân Lạp ở phía bắc là đồi núi, thung lũng, đồng bằng. Vùng Lục Chân Lạp bao gồm cả miền hạ Lào hiện nay và có phân biên giới giáp Hoan Châu. Quan hệ giữa Mai Thúc Loan với Chân lạp qua vùng biên giới phía tây Hoan Châu là có khả năng.
        Tân Đường thưcòn kể thêm nước Kim Lân. Theo Lương thư, Kim Lân là một nước mà vua Phạm mạn sau khi chinh phục “các xứ Đô Côn, Cửu Trị, Điển Tôn cả thảy hơn 10 nước”, đã tiến đánh Kim Lân thì bị bệnh. Khâm định Việt sử thông giám cương mục, trong chú thích về nước Kim Lân dựa vào Thái Bình ngữ lãm và ngoại quốc truyện, cho rằng ở phía tây Phù Nam hơn 2.000 dặm. Kim Lân có nghĩa là “xứ vàng”. Chữ Phạn là Suvarnabhumi vốn là tên người Ấn Độ chỉ chung vùng Đông Nam Á nổi tiếng có nhiều vàng và hương liệu quý. Kim Lân trong thư tịch Trung Quốc là một nước của người Môn cổ ở Myanmar, đúng là ở phía tây Phù Nam, nhưng cũng chưa xác định đó có phải là xứ Kim Lân mà vua Phù Nam tiến đánh hay không. Cho đến nay, chưa rõ vào đầu thé kỷ VIII, Kim Lân là một nước hay chỉ chung vùng Đông nam Á ?. Có lẽ vì thế, ngoài Tân Đường thư, Quảng Tây thông chí, hầu hết các tư liệu thư tịch cổ của Trung Quốc, kể cả Cựu Đường thư, không nói đến nước Kim Lân.
        Qua xác định các châu huyện của An Nam và các nước mà Mai Thúc Loan liên kết, có thể hình dung qui mô rất lớn của cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan. Ông nổi dậy ở Hoan Châu rồi nhanh chóng phát triển ra hầu khắp cả nước, đã “hãm An Nam phủ” (Cựu Đường thư, Sách phủ nguyên quy) tức đã tiến công phủ thành An Nam lúc đó là thành Tống Bình (Hà Nội). Đô hộ Quang Sở Khách phải bỏ thành chạy trốn. Tất cả các nguồn tư liệu của ta và Trung Quốc đều xác nhận, Mai Thúc Loan xưng đế hiệu Mai Hắc Đế. Các tư liệu của ta ghi nhận thêm, ông xây dựng thành Vạn An làm quốc đô. Như thế là cuộc khởi nghĩa đã toàn thắng, giải phóng đất nước khỏi ách đô hộ của nhà Đường và xây dựng chính quyền độc lập. Riêng việc xưng đế đã cho thấy ý thức quốc gia rất mạnh mẽ của Hoàng đế họ Mai. Trong lịch sử Việt Nam, người đầu tiên xưng đế là Lý Bí với đế hiệu Lý Nam Đế và quốc hiệu Vạn Xuân. Mai Thúc Loan là người thứ hai xưng đế sau khi thoát khỏi thời Bắc thuộc, trải qua chính quyền tự chủ họ Khúc, họ Dương vẫn giữ chức Tiết độ sứ, Ngô Quyền tiến lên xưng vương năm 939, đến Đinh BBồ Lĩnh năm 968 mới tiếp tục xưng đế mở đầu thời kỳ xưng đế liên tục của các hoàng đế nước Nam, biểu thị ý thức độc lập của quốc gia – dân tộc Đại Việt – Việt nam – Đại nam thời chế độ quân chủ.
        Nhưng về phương diện khoa họccần đặt ra vấn đề là Mai Thúc Loan đã chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa như thế nào, xây dựng lực lượng ra sao cùng diễn biến của cuộc khởi nghĩa. Dĩ nhiên để đạt được qui mô khởi nghĩa to lớn như vậy, Mai Thúc Loan và những người khởi xướng phải dày công chuẩn bị, phải có sự vận động, liên kết lực lượng, phải có tài năng tổ chức và lãnh đạo. Nhưng về tư liệu thì gần như chỉ có một số truyền thuyết và truyện Hương Lãm Hắc Đế ký trong Việt điện u linh. Truyện này cho biết Mai Thúc Loan đã bàn với vợ “Nay ta có chí bình định thiên hạ, đi khắp hải nội để giao kết với hào kiệt bốn phương, cùng lập sự nghiệp” và đã “phóng tầm giang hồ, đi tìm những kẻ dật sĩ”. Sau đó, tác giả là Chư Cát Thị dẫn ra tên tuổi một số nhân vật đã gặp gỡ và tham gia công việc chuẩn bị khởi nghĩa. Câu chuyện mang tính truyền thuyết, nó ảnh xạ một phương diện lịch sử là công việc liên kết hào kiệt, chuẩn bị cuộc nổi dậy qui mô lớn. Nhưng truyền thuyết phản ánh lịch sử, chứ không phải là lịch sử. Vì vậy từ truyền thuyết để phân tích và xác minh những vấn đề lịch sử là rất phức tạp, cần có sự xác nhận thêm của cứ liệu khoa hoc. Tôi được biết Đinh Văn Hiến và Đinh Lê Yên cùng một số nhà nghiên cứu quan tâm đến sự kiện này đang ra sức đi điều tra, khảo sát các địa phương liên quan đến cuộc khởi nghĩa để sưu tầm và xác minh tư liệu. Tôi lấy một ví dụ. Khi nghiên cứu cuộc khởi nghĩa Phùng Hưng, phát hiện tấm bia ở đình Quảng Bá (Tây Hồ, Hà Nội) cho biết cha Phùng Hưng là Phùng Hạp Khanh đã từng tham gia cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan. Văn bia khắc lại bản thần tích của làng và dựng năm 1841. Tuy chỉ dạng thần tích nhưng cũng cung cấp thông tin cho thấy một số hào trưởng kiểu thủ lĩnh địa phương vùng tây An nam phủ như Phùng Hạp Khanh đã tham gia cuộc khởi nghĩa. Rồi việc liên kết với Lâm Ấp, Chân lạp thực hiện như thế nào, chỉ là sự hưởng ứng hay có sự tham chiến.
        Tuy nhiên, sử Trun Quốc chép quân số khởi nghĩa lên đến 40 vạn quân thì cũng phải kiểm tra độ chính xác. Về phương diện này, Lời cẩn án của Khâm định Việt sử thông giám cương mục tỏ ý hoài nghi số quân của vua họ Mai đáng được quan tâm: “Khoảng năm Khai Nguyên (713 – 741) nhà Đường, An Nam đô hộ phủ vẫn còn ở Giao Châu, thống trị 12 châu, 59 huyện, đều đặt các quan thú tể để quản trị, việc đánh tô, dung, diệu và bắt lính đều tuân theo lệnh nhà Đường; lúc Mai Thúc Loan khởi lên, thì phủ đô hộ vớicác châu Phong, Ái, Lục, Diễn, chưa nghe thấy có đâu là thuộc về Mai Thúc Loan đóng giữ; như vậy Mai Thúc Loan làm thế nào mà chiêu tập được người 32 châu, có số quân đến 40 vạn ?. Trộm nghĩ Thúc Loan chẳng qua giữ được một châu, thế lực cũng nhỏ. Bấy giờ Đường Huyền Tông thích lập công ở biên giới , bọn Tư Húc và Sở Khách thì lợi dụng xứ này ở nơi hiểm trở xa xôi, nên mới thổi phồng thanh thế bên địch để cầu lấy công cán và phong thưởng đó thôi. Nếu không phải thế thì sao giáp binh và đất đai như thế, mà quân nhà Đường mới thoạt kéo đến đã vội kinh hãi tan rã ngay ?. Sử cũ cũng chép Thúc Loan ngoài liên kết với các nước Lâm Ấp, Chân Lạp, số quân có 30vạn có lẽ cũng cứdựa vào Đường thư, chứ chưa đến sự thật.”.
        Cần lưu ý, trong cuộc khởi nghĩa dân tộc thì số quân khởi nghĩa buổi đầu chủ yếu là quần chúng tự vũ trang nổi dậy đấu tranh, chứ chưa phải là quân đội được tổ chức và phiên chế chặt chẽ. Vì vậy hàng chục vạn quân chúng chép trong sử nhà Đường chỉ là con số phỏng chừng và không loại bỏ ý đồ khuếch đại để phô trương chiến công đàn áp như Lời cẩn án của bộ quốc sử triều NGuyễn, nhưng điều quan trọng cần hiểu đấy là lực lượng nổi dậycủa dân chúng.
        Năm 713 Mai Thúc Loan khởi nghĩa, trước hết chiếm giữ Hoan Châu làm căn cứ, mở rộng thế lực ra các châu huyện, rồi tiến công chiếm An Nam phủ thành. Từ đó cho đến lúc thất bại năm 722, trong thời gian gần 10 năm, nhà nước Vạn Anđã cai quản đất nước như thế nào, xây dựng bộ máy chính quyền và thực thi các chính sách gì ?. Đấy cũng là một vấn đề quan trọng mà cho đến nay, chưa có tư liệuđể đưa ra trả lời có sức thuyết phục.
        Năm 722nhà Đường mới điều quân sang đàn áp. Một câu hỏi cần đặt ra là tại sao nhà Đường phản ứng chậm như vậy. Sau khi Đường Thái Tông mất năm 649, triều đình nhà Đường lâm vào tình trạng rối loạn bởi sự chuyên quyền của Thái hậu Võ Tắc Thiên cho đến năm 690, rồi lại thời xưng đế, đổi thành nhà Chu của Võ Tắc Thiên cho đến thoái vị năm 705. Nhà Đường được khôi phúc, nhưng cho đến năm 713 xung đột và mâu thuẫn cung đình vẫn tiếp tục với 3 vua bị phế truất là Trung Tông (705 – 707), Thiếu đế (710) và Duệ Tông (710 – 712). Đường Huyền Tông (712 – 756) lên nối ngôi, chắc chắn trong những năm đầu phải tập trung giải quyết những hậu quả nặng nề của hơn nửa thế kỷ khủng hoảng cung đình, lo dẹp nội loạn, chỉnh đốn bộ máy nhà nước và ổn định tình hình chính trị, xã hội. Có thể đó là lý do cắt nghĩa việc điều quân chậm của nhà Đường. Nam Khai Nguyên thứ 10 (722), Dương Tư Húc là nội quan (hoạn quan) và là một tướng rất tàn bạo, đã từng lập công trong các cuộc giành quyền lực, vua Đường coi như nanh vuốt, được cử làm Tả (Hữu?) giám môn Vệ tướng quân điều quân cùng với An Nam đại đô hộ Quang Sở khách đánh chiếm lại An Nam. Dương Tư Húc còn chiêu mộ thêm con em các thủ lĩnh vùng Lĩnh Biểu tức vùng nam Trung Quốc gần An Nam, được hơn 10 vạn binh mã. Tân Đường thư và Cựu Đường thư miêu tả cuộc tiến quân quá đơn giản và rất vắn tắt: theo đường cũ của Mã Viện tức đường ven biển vùng Quảng Ninh, rồi bất ngờ tiến công khiến quân vua Mai không kịp đối phóvà bị thất bại. Hắn sai thu nhặt và chôn xác chết thành gò đống gọi là Kình quán để ghi chiến công rồi rút quân về nước. Căn cứ vào đường hành quân thì nơi quân Đường tiến công là phủ thành An Nam tức là thành Tống Bình (Hà Nội). Cuộc tấn công của quân Đường giường như chỉ có một trận đánh. Nhưng theo các theo các truyền thuyết thì vua Mai sau thất bại ở phủ thành An Nam, rút quân về Hoan Châu và cuộc kháng chiến tiếp tục với những trận đánh ác liệt quanh thành Vạn An. Đây cũng là một vấn đề cần xác minh trên cơ sở tìm kiếm thêm các cứ liệu khoa học.

        3. Vài nhận xét
        3.1. Trên cơ sở tập hợp và phân tích các nguông tư liệu hiện có, có thể nhận định:
        – Khởi nghĩa Mai Thúc Loan bùng nổ năm Khai Nguyên thứ 1 tức là năm 713, chứ không phải năm Khai Nguyên thứ 10 (722) như sách cũ của ta chép và nhiều công trình lịch sử đã viết theo..
        – Cuộc khởi nghĩa có qui mô lớn, từ Hoan Châu đã mở rộng ra gần như cả nước và đã giành thắng lợi, chiếm phủ thành An Nam, giải phóng đất nước.
        – Trên cơ sở thắng lợi đó, Mai Thúc Loan đã xưng đế tức vua Mai hắc Đế, xây thành Van An làm quốc đô.
        – Nhà nước độc lập tồn tại được gần 10 năm từ 713 đến năm 722.
        – Đại Đường là một đế chế lớn mạnh bậc nhất ở phương Đông thế kỷ VIII, nhất là thời Đường Thái Tông (626 – 649) và Đường Huyền Tông (712 – 756). Mai Thúc Loan đã khởi nghĩa thành công, giải phóng cả nước và duy trì nhà nước độc lập với danh hiệu hoàng đế gần 10 năm ngay trong thời cường thịnh của nhà Đường. Cũng cần lưu ý trong buổi đầu thời Đường Huyền Tông còn phải lo khắc phục hậu quả những năm xung đột cung đình sau thời Đường Thái Tông đã tạo cơ hội cho cuộc khởi nghĩa bùng nổ và thắng lợi. Trước đế chế Đại Đường thời thịnh đạt, thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan là một thành công rất lớn, cần được nhìn nhận và tôn vinh một cách xứng đáng.
        3.2. Tuy nhiên, các tư liệu ngoài thư tịch, phần lớn là truyền thuyết, thần tích, thần phả, chưa hội đủ thông tin khoa học để làm sáng rõ nhiều vấn đề như công việc chuẩn bị khởi nghĩa của Mai Thúc Loan, diễn biến của cuộc khởi nghĩa thắng lợi cũng như cuộc kháng chiến thất bại cùng hoạt động của chính quyền vua Mai. Do đó, cần tiếp tục công việc phát hiện và thu thập tư liệu, nhất là trên những địa bàn liên quan đến các hoạt động của Mai Hắc Đế để góp phần giải quyết những vấn đề khoa học đang tồn tại.

      • Mai Văn Hoa Says:

        Sau khi cuốn sách HỌ MAI VIỆT NAM xuất bản. Tôi sưu tầm được cuốn “Quốc triều Hương khoa lục”. Xin trích đăng, mời anh em cùng đọc. Đối chiếu với sách HMVN thì có một số vị thông tin chưa khớp nhau (sai tên, sai địa chỉ ….). Có gì chưa đúng xin anh em trao đổi lại theo địa chỉ Email: maivanhoax@yahoo.com. Điện thoại 0989659069.

        Hương khoa lục họ Mai
        Từ 1807 đến 1918
        (trích trong Quốc triều Hương khoa lục của Cao Xuân Dục
        Nhà Xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh – 1993)

        Ghi chú: Chữ số đầu họ Tên là số thứ tự theo “Quốc triều Hương khoa lục”.

        0249. Mai Thăng Đường. Người thôn Tân Lân, huyện Phước Lộc. Làm quan tới chức Án sát (Khoa Kỷ Mão đời Gia Long 1819. Trường Gia Định).

        0356. Mai Khắc Kính (đổi là Mai Khắc Mẫn). Người làng Quần Mông, huyện Giao Thủy. Làm quan tới chức Án sát, bị giáng, được phục chức Giáo thụ (Khoa Tân Tỵ đời Minh Mạng 1821. Trường Sơn Nam).

        0602. Mai Hữu Điển. Người thôn Đức Hòa, huyện Tân Long. Làm quan tới chức Án sát Hà Tiên (Khoa Mậu Tý đời Minh Mạng 1828 . Trường Gia Định).

        0620. Mai Công Bình. Người xã Đàn Lâm, huyện Phù Cát (Khoa Tân Mão đời Minh Mạng 1831. Trường Thừa Thiên).

        0736. Mai Đức Hằng (đổi lại là Mai Đức Thường). Người xã Dương Xuân, huyện Hương Trà. Làm quan tới chức Thị lang bộ Hộ (Khoa Giáp Ngọ đời Minh Mạng 1834 . Trường Thừa Thiên).

        0928. Mai Anh Tuấn. Người xã thạch Giản, huyện Nga Sơn. Thi Thám hoa khoa Quý Mão (1843), vua ban tên là Anh Tuấn. Làm quan tới chức Án sát Lạng Sơn, chết trận (Khoa Canh Tý đời Minh Mạng 1840. Trường Nghệ An).

        1122. Mai Trước Tòng. Người xã Đại Lợi, huyện Phù Cát (Khoa Nhâm Dần đời Thiệu Trị 1842. Trường Thừa Thiên).

        1492. Mai Văn Phẩm (đổi là Mai Xuân Tín). Người Phú Lạc, huyện Tuy Viễn. Làm quan tới chức Bố chánh Cao Bằng (Khoa Đinh Mùi đời Thiệu Trị 1847. Trường Thừa Thiên).

        1560. Mai Quang Nhuận. Người xã Lực Đáp, huyện Vĩnh Lại. Làm quan tới chức Ngự sử, bị cách phải đi hiệu lực (Khoa Đinh Mùi đời Thiệu Trị 1847. Trường Nam Định).

        1581. Mai Đình Thực. Người thôn Tân Dương, huyện Vĩnh An (Khoa Đinh Mùi đời Thiệu Trị 1847. Trường Gia Định).

        1699. Mai Khắc Cung. Người xã Phù Xá, huyện Từ Liêm. Làm quan tới chức Giáo thụ, cáo về (Khoa Mậu Thân đời Tự Đức 1848. Trường Hà Nội).

        1938. Mai Khanh (đổi là Mai Văn Chất). Người xã Đông Tháp, huyện Đông Thành, tỉnh Nghệ An. Làm quan đến chức Bố chánh, bị cách về (Khoa Nhâm Tý đời Tự Đức 1852. Trường Nghệ An).

        1942. Mai Thế Quý (đổi là Mai Quý). Người xã Phù Lưu, huyện Thiên Lộc, tỉnh Nghệ An. Khoa Bính Ngọ (1847) bị truất, khoa này lại trúng. Thi đậu Tiến sĩ khoa Quý Sửu (1853). Làm quan tới chức Tuần phủ Tuyên Quang (Khoa Nhâm Tý đời Tự Đức 1852. Trường Nghệ An).

        2024. Mai Thoại Phương. Người thôn An Định, huyện Tân Long. Làm quan tới chức Giáo thụ (Khoa Nhâm Tý đời Tự Đức 1852. Trường Gia Định).

        2189. Mai Quang Hiển (đổi là Mai Khả Nguyện). Người xã Đông Biện, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Làm tới chức Huấn đạo (Khoa Mậu Ngọ đời Tự Đức 1858. Trường Thanh Hóa).

        2427. Mai Huy Hòa. Người xã Yên Trung, huyện Hậu Lộc. Làm quan tới chức Huấn đạo (Khoa Giáp Tý đời Tự Đức – 1864 – Trường Thanh Hóa).

        2513. Mai Văn Giản. Người xã La Hà, huyện Minh Chánh (Khoa Đinh Mão đời Tự Đức 1867. Trường Thừa Thiên).

        2808. Mai Chuyên. Người xã Thổ Khối, huyện Nga Sơn (Khoa Canh Ngọ đời Tự Đức 1870. Trường Thanh Hóa).

        2869. Mai Đình Nghị. Người xã Chánh Lộc, huyện Phù Cát (Khoa Canh Ngọ đời Tự Đức 1870. Trường Bình Định).

        3171. Mai Văn Lệnh. Người Yên Nội, huyện La Sơn. Chưa kịp làm quan (Khoa Mậu Dần đời Tự Đức 1878. Trường Nghệ An).

        3321. Mai Hữu Thường. Người xã Bất Một, huyện Vĩnh Lộc (Khoa Kỷ Mão đời Tự Đức 1879 . Trường Thanh Hóa).

        3457. Mai Dực. Người xã La Hà , tỉnh Quảng Bình (Khoa Giáp Thân đời Kiến Phúc 1884. Trường Thừa Thiên).

        3480. Mai Diễn. Người xã Cẩm Phô, huyện Diên Phước (Khoa Giáp Thân đời Kiến Phúc 1884. Trường Thừa Thiên).

        3477. Mai Khắc Đôn. Người xã Kim Long, huyện Hương Trà. Làm Ngự sử (Khoa Giáp Thân đời Kiến Phúc 1884. Trường Thừa Thiên).

        3480. Mai Diễn. Người xã Cẩm Phô, huyện Diên Phước (Khoa Giáp Thân đời Kiến Phúc 1884. Trường Thừa Thiên).

        3532. Mai Lập Chính. Người xã An Nội, tỉnh Hà Nội (Khoa Giáp Thân đời Kiến Phúc 1884. Trường Hà Nội và Nam Định thi chung).

        3601. Mai Xuân Thưởng (cha con cùng thi đậu). Người thôn Phú Lạc, huyện Tuy Viễn. Con Mai Xuân Tín (vốn tên Mai Văn Phẩm, sau đổi Mai Xuân Tín). Lúc tỉnh thành có biến, tập hợp thân hào, can trọng án (Khoa Ất Dậu đời Hàm Nghi 1885. Trường Bình Định).

        4005. Mai Quang Dao. Người xã Trác Dụ, huyện Huyện Hương Trà , tỉnh Thừa Thiên. Đậu năm 39 tuổi. Làm quan tới chức Hành tẩu, bộ Lại, về hưu (Khoa Giáp Ngọ đời Thành Thái 1894. Trường Thừa Thiên).

        4087. Mai Xuân Dương. Người xã Kiên Lao, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định. Đậu năm 23 tuổi (Khoa Giáp Ngọ đời Thành Thái 1894. Trường Hà Nam).

        4088. Mai Công Hoán, Tú tài. Người xã Lạc Nam, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định. Đậu năm 23 tuổi (Khoa Giáp Ngọ đời Thành Thái 1894. Trường Hà Nam).

        4174. Mai Huy Dự (trước tên là Mai Huy Lãng). Người xã Giai Lạc, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Đậu năm 46 tuổi (Khoa Đinh Dậu đời Thành Thái 1897. Trường Nghệ An).

        4177. Mai Trọng Đôn. Người xã Đông Thái, huyện La Sơn, tỉnh Hà tĩnh. Đậu năm 34 tuổi (Khoa Đinh Dậu đời Thành Thái 1897. Trường Nghệ An).

        4353. Mai Phong, Tú tài. Người xã Thanh An, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Đậu năm 37 tuổi (Khoa Canh Tý đời Tự Đức 1900. Trường Bình Định).

        4405. Mai Đính (cha con cùng thi đậu). Người xã Bồng Trung, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Con Đốc học Mai Khả Nguyện. Đậu năm 35 tuổi. Làm quan đến chức Huấn đạo (Khoa Canh Tý đời Thành Thái 1900. Trường Thanh Hóa).

        4546. Mai Văn Quý. Người xã Thạnh Mỹ, huyện Bồng Sơn, tỉnh Bình Định. Đậu năm 32 tuổi. làm Hậu bổ Bình Thuận (Khoa Quý Mão đời Thành Thái 1903. Trường Bình Định).

        4585. Mai Trọng Khuê. Người xã Hà Đồ, huyện Hoằng Hóa. Đậu năm 37 tuổi. Làm quan tới chức Hậu bổ Nghệ An, bị triệt hồi (Khoa Quý Mão đời Thành Thái 1903. Trường Thanh Hóa).

        4660. Mai Dị, Học sinh. Người xã Nông Sơn, huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam. Đậu năm 23 tuổi (Khoa Bính Ngọ đời Thành Thái 1906. Trường Thừa Thiên).

        4730. Mai Hữu Dụng. Người xã Mậu Lâm, huyện Nga Sơn. Đậu năm 36 tuổi. Thi đậu Tiến sĩ khoa Quý Sửu 1913. Làm quan tới chức Ngự sử (Khoa Bính Ngị đời Thành Thái 1906. Trường Thanh Hóa).

        4989. Mai Văn Dương (cha con cùng thi đậu). Người xã Yên Nội, huyện La Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Con ông Mai Lệnh. Đậu năm 29 tuổi(Khoa Nhâm Tý đời Duy Tân. Trường Nghệ An).

        5030. Mai Đăng Đệ. Người xã Trường Lũ, huyện Phụ Dực, tỉnh Thái Bình. Đậu năm 23 tuổi (Khoa Nhâm Tý đời Duy Tân 1912. Trường Hà Nam).

        5091. Mai Xuân Viên (trước tên là Mai Xuân Sum). Người xã Lộc Thượng, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Đậu năm 24 tuổi (Khoa Ất Mão đời Duy Tân 1915. Trường Bình Định).

      • Mai Văn Hoa Says:

        Sau khi đưa Hương khoa lục người họ Mai. Tôi xin tiếp tục đưa Các nhà khoa bảng người họ Mai. Kính mời anh chị em cùng đọc, nếu có sai sót xin trao đổi lại.
        Các nhà khoa bảng họ Mai
        Từ 1075 – 1919
        (Trích trong Các nhà khoa bảng Việt Nam của Nguyễn Đức Thọ chủ biên.
        Nhà xuất bản Văn học)

        45. Mai Tú Phu. Chưa rõ quê quán. Đỗ khoa thi thái học sinh niên hiệu Quang Thái 6 (1393) đời Trần Thuận Tông. Đời Hồ Hán Thương, Mai Tú Phu làm thông phán Ái Châu, sung phó sứ trong sứ bộ do Trần Cung Túc làm chánh sứ sang nhà Minh biện bạch về việc Trần Thiêm Bình, bị nhà Minh bắt giữ lại Kim Lăng, đến khi quân Minh bắt được Hồ Quý Ly ông mới được tha về. LTĐK bản A.2752 bỏ trống không ghi quê quán, bản VHv.650 có dòng ghi Mai Tú Phu người xã Yên Cảnh huyện Thượng Phúc (nay thuộc huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây). Làm quan đến chức Thị lang.

        448. Mai Duy Tinh. Người xã Tây Mỗ huyện Nga Sơn, nay thuộc Thị Trấn Nga Sơn huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa. Đệ Nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ tam danh (Thám hoa) khoa Giáp Thìn niên hiệu Hồng Đức 15 (1484) đời Lê Thánh Tông. Làm đến chức Lại bộ thị lang. LHĐK: đỗ năm 22 tuổi.

        759. Mai Đức Bá (1477- ? ). Người xã Thạch Lỗi huyện Thạch Hà, nay thuộc huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh. Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất than (Hoàng giáp) khoa Nhâm Tuất niên hiệu Cảnh Thống 5 (1502) đời Lê Hiến Tông. Làm quan đến chức Hiến sát sứ. LĐKH: Đỗ năm 26 tuổi.

        914. Mai Bang (1482 – ? ). Người xã Đào Tai huyện Quế Dương, nay là thôn Đào Viên huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh. Anh của Mai Khuyến, ông nội của Mai Trọng Hòa. 30 tuổi đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất than (Hoàng giáp) khoa Tân Mùi niên hiệu Hồng Thuận 3 (1551) đời Lê Tương Dực.

        1163. Mai Khuyến. Người xã Đào Tai huyện Quế Dương, nay là thôn Đào Viên xã Đào Viên huyện Quế Võ tỉnh Bác Ninh. Em của Mai Bang, cha của Mai Công, cố nội Mai Trọng Hòa. Thi đỗ Đệ tam giáp Tiến sĩ xuất thân khoa Ất Mùi niên hiệu Đại Chính 6 (1535) đời Mạc Đăng Doanh. Được cử đi sứ sang nhà Minh. Làm quan đến chức LLeex bộ Tả thị lang.

        1322. Mai Công (1530 – ? ). Người xã Đào Tai huyện Quế Dương, nay là thôn Đào Viên xã Đào Viên huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh. Con Mai Khuyến, ông nội Mai Trọng Hòa. 24 tuổi đỗ Đẹ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Quý Sửu niên hiệu Cảnh Lịch 6 (1553) đời Mạc Phúc Nguyên. Ông từng được cử đi sứ sang nhà Minh. Làm quan đến chức Thượng thư, tước An Thường hầu.

        1797. Mai Trọng Hòa (1610 – ? ). Người xã Đào Tai huyện Quế Dương, nay là thôn Đào Viên xã Đào Viên huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh. Cháu Mai Công, tằng tôn Mai Khuyến, cháu xa đời của Mai Bang. 50 tuổi đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Kỷ Hợi niên hiệu Vĩnh Thọ 2 (1659) đời Lê Thần Tông. Làm quan đến chức Hiến sứ.

        1965. Mai Thụy (1667 – ? ). Người xã Lạc Sơn huyện Chí Linh, nay là thôn Lạc Sơn xã An lạc huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương. 25 tuổi đỗ Đệ tam giáp Tiến sĩ xuất thân khoa Tân Mùi niên hiệu Chính Hòa 12 (1691) đời Lê Hy Tông. Làm quan đến chức Tham chính.

        2145. Mai Thế Chuẩn (1703 – 1761). Người xã Thạch Tuyền huyện Nga Sơn, nay là thông Thạch Tuyền xã Nga Thanh huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa. 29 tuổi đỗ Đệ tam giáp Tiến sĩ xuất thân khoa Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Khánh 3 (1731) đời Lê Duy Phường. Làm quan đến chức Hữu thị lang, đổi sang võ ban, giữ chức Quyền phụ sự. Thọ 59 tuổi.

        2146. Mai Danh Tông (1706 – ? ). Người xã Cao Lãm huyện Sơn Minh, nay là thôn Cao Lãm huyện Ứng Hòa tỉnh Hà Tây. Anh Mai Nghĩa Chính. Anh em đồng triều. 26 tuổi đỗ Đệ tam giáp Tiến sĩ xuất thân khoa Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Khánh 3 (1731) đời Lê Duy Phường. Làm quan đến chức Hiệu thư, tước bá.

        ….. . Mai Nghĩa Chính

        2449. Mai Anh Tuấn (1815 – 1855). Người xã Thạch Giản huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa. Tên cũ là Mai Thế Tuấn. Sinh năm Ất Hợi. Thi hương khoa Đinh Dậu niên hiệu Minh Mệnh 18 (1837) thuộc hạng được lấy them. Đến khoa Canh Tý (1840) thi lại đỗ mới được thực thụ Cử nhân. 29 tuổi đỗ Đình nguyên, Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ tam danh (Thám hoa) Ân khoa Quý Mão Thiệu Trị 3 (1843). Sauk hi đỗ được bổ chức Hàn lâm viện Trước tác, sung chức Hành tẩu ở Bí thư sở thuộc nội các. Đầu đời Tự Đức (1848) nhân việc hộ tống thuyền nhà Thanh bị nạn về nước, triều đình dự định cho chở theo nhiều gạo, gỗ để sang bán lấy tiền địa phương mua hang hóa đem về, Mai Anh Tuấn dâng sớ cực lực can ngăn, không ngờ trái ý vua. Vua giận giao cho bộ Lại xét tội. Mau được nhiều người xin vua khoan tha cho, chỉ bị khiển trách nhẹ điều đi làm Án sát Lạng Sơn. Hồi này bọn thổ phỉ nước Thanh đang hoành hành ở vùng biên giới. Bọn chúng theo đường Tiên Yên kéo vào đánh châu Lộc Bình. Mai Anh Tuấn cùng Chưởng vệ Nguyễn Đạc dẫn quân ra đánh, đuổi đến Yên Bác. Ngày 6 tháng 4 năm Tự Đức 8 (1855) giặc lui giữ Thiết Khê. Mai Anh Tuấn có ý ngờ quân giặc dụ tiến, nhưng Chưởng vệ Nguyễn Đạc cứ quyết ý đuổi theo, rốt cuộc quan quân bị mai phục, Nguyễn Đạc bị giết. Ông đốc quân đuổi đến để cứu vãn tình thế, nhưng thế yếu không chống nổi, chết tại trận. Truy tặng Hàn lâm viện Trực học sĩ.

        2570. Mai Thế Quý (1822 – ? ). Người xã Phù Lưu huyện Thiên Lộc, nay là thôn Phù Lưu huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh. Sau đổi là Mai Quý. Sinh năm Nhâm Ngọ. Cử nhân khoa Nhâm Tý (1852). 32 tuổi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Quý Sửu niên hiệu Tự Đức 6 (1853). Nguyên ông đỗ Giải nguyên khoa trước, nhưng vì giấu việc cha bị tội, nên bị đánh hỏng, đến khoa này lại đỗ. Lúc đầu được bổ chức ở Hàn lâm viện, bổ đi Tri phủ Lâm Thao. Có công dẹp phỉ, Thăng quyền Hộ lý tuần phủ Quảng Yên. Năm Tự Đức 21 (1868) sung Hải phòng hiệp lý Hải Dương, kiêm quản Nhu năng quan. Sau sung Tán tương quân thứ Lạng Bình, lại sung Tán lý quân thứ Tuyên Quang. Đánh giặc có lần bị thua, bị giáng chức, sau có chiến công lại được thăng Tả thị lang bộ Binh sung Tiễu phủ sứ Tuyên Quang. Năm Tự Đức thứ 23 (1870) lại thua trận, phải sang Vân Nam chữa thuốc. Khỏi bệnh trở về bị lột hết chức tước, cho lưu quân để lập công chuộc tội. Ít lâu sau thống tướng Hoàng Tá Viêm xin triều đình bổ dụng Mai Thế Quý làm Bố chính sứ Tuyên Quang. Liên tiếp đánh thắng ở Phúc Ninh, Hương mang, bắt được đầu sỏ đảng giặc, ông được thăng thự Tuần phủ Tuyên Quang. Những năm sau đó công việc cai trị ở miền biên giới có nhiều thành tích , dân xiêu tán các nơi lại tìm về dất cũ sinh tụ. Do lâu ngày cảm nhiễm sơn lam chướng khí, ông bị ốm rồi mất trong quân.

        2852. Mai Hữu Dụng (1871 – ? ). Người xã Nga Lộ huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa, nay thuộc xã Ba Đinh huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa. Sinh năm Tân Mùi. Cử nhân khoa Bính Ngọ (1906). 43 tuổi đỗ Đẹ tam giáp Tiến sĩ xuất thân khoa Quý Sửu niên hiệu Duy Tân 7 (1913). Làm quan đến chức Ngự sử.
        Chú: xã Nga Lộ đầu Nguyễn thuộc tổng Mậu Lâm huyện Nga Sơn. Các tài liệu đầu thế kỷ XX không còn tên Nga Lộ, qua tra cứu thấy các xã cùng tổng gần đó như các xã Mậu Lâm, Mậu Thịnh … nay thuộc xã Ba Đình huyện Nga Sơn, nhiều khả năng xã Nga Lộ nay cũng thuộc xã Ba Đình.

        2882. Mai Duyên (1892 – ? )> Người xã Hậu Thạch tỉnh Thanh Hóa, nay là xã Nga Thạch huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa. Cháu 4 đời của Mai Anh Tuấn. Cử nhân khoa Mậu Ngọ (1918). 28 tuổi đỗ Phó bảng khoa Kỷ Mùi niên hiệu Khải Định 4 (1919). Thừa phái bộ Lễ.
        Chú: xã Hậu Thạch thuộc tổng Liên Trì huyện Ngọc Sơn. QTKB bản VHv chép nhầm là Hậu Trạch.

      • Mai Sỹ Thảo Says:

        Chào Báo Nhân,
        Em là Mai Sỹ Thảo. quê gốc ở Nghệ An. Hiện đang sinh sống tại Vũng Tàu. Bác nhân có thể cho em biết bác ở Huyện nào của Nghệ An không ?
        Em cũng đang muốn tìm gốc rễ của họ Mai.
        Mong tin bác. Nếu nhận được thông tin, bác mail cho em nhé :thao.maisy@gmail.com
        Cảm ơn bác.
        Mai Sỹ Thảo

      • Mai Sáng Says:

        Cháu chào các chú biên tập, cho phép cháu gọi là chú vì cháu 30 tuổi. Cháu là Mai Thị Sáng, có gửi tin nhắn hồi tháng 4/2011. Lâu cháu không vào trang web nên giờ mới nhận được phản hồi từ chú Mai Văn Hoa. Cháu xin ghi thêm thông tin về nhánh họ Mai ở Quảng Giao, Quảng Xương, Thanh Hóa để chú tiện liên hệ. Khi nào có dịp mời chú về quê cháu tìm hiểu thêm.
        Cháu cũng là họ Mai Văn, gia phả ghi chép lại là bắt đầu từ thời Lê Trung Hưng 1533, cụ Tổ xuất phát từ Nga Sơn, làm quan tại Nghệ An. Loạn lạc thời Lê-Mạc phải chạy về Quảng Xương và định cư tại đây. Và tại 3 xã bên cạnh còn có nhánh mang họ Mai Thiên, Mai Đình nữa.
        Nếu chú đi từ Nghệ An ra thì dọc quốc lộ 1A, đến chợ Quảng Xương (hay Bưu điện huyện Quảng Xương) có ngã ba. Rẽ phải vào con đường Thanh niên, đi về phía biển 6km (hết con đường) thì đến xã Quảng Giao. Hỏi thăm vào nhà bác Mai Văn Phúc (hoặc cha cháu Mai Văn Ngọc) là những người biết nhiều và có tâm huyết với dòng họ. Bác có thể liên lạc với bác Phúc qua số điện thoại 0373799093. Hoặc nếu ở Hà nội chú có thể liên lặc với anh Mai Văn Tài (0912268961) để lấy tư liệu. Năm 2008 bác Phúc, anh Tài và cháu đã ra nhà bác Mai Vân ở Giáp Bát để đưa gia phả, sắc phong của gia tộc cho bác Mai Vân. Được bác Vân kể nhiều giai thoại về Cụ Mai Anh Tuấn và về các dòng họ khác. Hiện giờ cháu ở Sài Gòn nên không có điều kiện dẫn đường trực tiếp cho chú vì cháu rất thích được làm việc đó.
        Cháu rất mong chú có thể về và thu thập thêm được nhiều thông tin để bổ sung vào danh sách họ Mai trên cả nước.
        Chúc các chú có sức khỏe dồi dào, đầy nhiệt tình tâm huyết để giúp ích cho dòng họ. Cháu biết ơn các chú

  16. Mai Trọng Hào Says:

    Tôi vốn quê ở Hà Tĩnh, hiện đang công tác tại Đắk Lắk, theo như tôi được biết, hiện nay trên địa bàn hai tĩnh Đắk Lắk & Đắk Nông con cháu họ Mai trên khắp cả nước về định cư ở 2 tĩnh này khá đông, đặc biệt mới rồi ở thị trấn Phước An (huyện Krông Pắk – Đắk Lắk) bà con đã đóng góp xây dựng được một nhà thờ Mai tộc, tuy còn khiêm tốn do kinh phí hạn hẹp, nhưng dẫu sao đây cũng là tấm lòng hướng về cội nguồn Tổ Tông Dòng Họ Mai. nay tôi được tin các Bác đã cho in tập sách Họ Mai Việt Nam hiện đã & đang phát hành, tôi có nguyện vọng muốn mua một vài tập để con cháu Họ Mai ở trong này dâng lên nhà thờ vọng Tổ như tôi trình bày ở trên, nhờ các bác tư vấn giùm, tôi xin cám ơn.

    • mai Trọng Nhân Says:

      Chào anh Hào! anh thuộc họ nào ở Hà Tĩnh? Anh có thể cho người liên hệ các đại lý ở Hà Nội hay TP.HCM để mua.(giá 140.000đ/cuốn tại đại lý), địa chỉ các đại lý này đã đăng trên mạng, hoặc anh thỏa thuận tiền cước và gửi tiền rồi nhận sách theo đường oto do tổng đại lý tại 190 phố Lạc Trung-Hà Nội-nơi này đã có đường dây vận chuyển đi khắp nước, anh gọi điện cho họ. Chúc bà con họ ta mạnh khỏe và phát đạt.

  17. Mai Văn Tú Says:

    bác ơi đã xuất bản sách chưa, theo cháu nghĩ thì bác cứ đưa cuốn sách lên trang web trước đi cho mọi người được đọc và biết đến dòng họ của mình, có nhiều ý nghĩa, còn việc xuất bản thì phải từ từ bác ạ phải thật rõ dàng và kỹ càng đã, vì khi xuất bản rồi nếu sai sót hay thiếu gì đó thì ko tốt rồi.cháu hy vọng sơm nhất được đọc qua sách trên mạng.

  18. Mai Lĩnh Says:

    Cháu tên Mai Lĩnh (sn 1975 tại Sài Gòn, HKTT tại Q. 11 , Tp. HCM), con ông Mai Văn Lượng, ông nội là Mai Văn Chi, ông cố là cụ Mai Văn Quế (Quảng Ninh), nay muốn xin được tham gia vào nhánh Họ MAI duoc không ạ ?

    • Mai Trọng Nhân Says:

      Chúng ta làm việc họ là để gắn kết con cháu họ Mai Trong cả nước đưới Tổ chung nhằm phát huy nguồn gốc và truyền thống của dòng họ đặng giáo dục con cháu học tập gương sáng tiền nhân cùng chung tay xây dựng dọng họ và đất nước. Ban Biên soạn mở rộng cửa mời chi họ ta vào, anh chỗ bác mai xuân tần mua sách và nhờ các cụ cao niên viết bài giới thiệu họ mình để tham gia sân chung HMVN. TBBS. Nhân.

  19. Mai Khắc Bân Says:

    Tìm được trang dòng họ Mai VN tôi rất thích. Tôi quê ở Nghi Thạch, Nghi Lộc, Nghệ an. Tôi muốn biết gốc tích chi họ Mai này phát tích từ đâu? Nhưng trong mục lục của sách họ Mai lại không có. Không biết có tìm được gì trong cuốn sách đó không?

    • Mai trọng Nhân Says:

      Chào anh Bân, các họ Mai ở Nghệ An khá nhiều nhưng gốc tích chưa biết, họ ta cần cử người nghiên cứu phối hợp với chúng tôi may ra tìm được. Trong sách HMVN có nhiều cái bổ ích đáng đọc hơn ngoài tin cụ thể các dòng họ. Anh tới anh Hoa ở Tp. Vinh mua sách.

  20. mai Trọng Nhân Says:

    Chào cháu Lĩnh! Hội nhập cội nguồn là nguyện vọng chung, “người nào biết nghoảnh lại, người đó sẽ rộng đường đi tiếp”. Cháu nên nhờ các bậc cha ông viết nguồn gốc họ mình trước khi tham gia vào hàng ngũ toàn quốc, cháu liên hệ với bác Tần ở 287 Điện Biên Phủ-P7,Q3, HCM mua sách HMVN. Nhân.

  21. Mai Văn Hiệp Says:

    Tôi là Mai Văn Hiệp.Chi nhánh Họ Mai Văn ở Làng Vu Chu,Cổ Đô-Ba Vì-Hà Nội.Quê gốc ở đất Nam Định.Các Cụ lên đất Hồng Châu(Làng Vu Chu, Xã Cổ Đô ngày nay.Tôi muốn tìm Nguồn cội từ Họ Mai Văn và Họ Mai làng Tức Mặc,phủ Thiên Trường,TP Nam ĐỊnh và Họ Mai Việt Nam trên toàn Quốc.Thông tin liên lạc theo địa chỉ của tôi.Kính thư.

  22. Mai Trongj Nhaan Says:

    BÀN VỀ NGUỒN GỐC HỌ MAI VIỆT NAM
    Mai Trọng Nhân

    Trong văn tế vua Hùng năm 2008 do cố Gs. Vũ Khiêu viết:
    Nhớ thuở xưa:
    Mẹ từng non cao toả sáng nghĩa nhân,
    Cha vốn biển cả quật cường mưu trí,
    Sánh đôi tài sắc Kim cổ kỳ phùng,
    Hợp một âm dương Uuyên ương tuyệt mỹ !
    Đẹp gia đình trăm trứng trăm con,
    Vui sơn thuỷ một lòng một ý,
    Cuộc mưu sinh thử thách muôn vàn,
    Đường lập nghiệp gian nan xiết kể.
    Nào rừng rậm, đầm lầy, sông sâu, núi hiểm há quản xông pha !
    Nào kình nghê, hổ báo, bệnh tật, bão giông, lấy gì bảo vệ ?
    Chia con hai ngả lên đường,
    Chọn trưởng một ngôi kế vị .
    Giang sơn một cõi: sao cho vạn đại trường tồn ?
    Rừng bể đôi nơi: cùng dựng bốn phương hùng vĩ !
    Hiên ngang thay ! Phù Đổng diệt thù !
    Dũng cảm thay ! Sơn tinh trị thuỷ !
    Đẹp thay Chử Đồng Tử, tình yêu như ngọc sáng gương trong,
    Giỏi thay Mai An Tiêm, lao động như dời non lấp bể.
    Vẻ vang mười tám vương triều,
    Rực rỡ trăm đời thịnh trị.
    Đoạn văn tế này như đã nói rằng Mai An Tiêm là con cháu của Lạc Long Quân và Âu Cơ, Lạc Long Quân dẫn 49 người con xuống biển, ra biển đảo xác lập chủ quyền hải phận chứ không phải là bị đi đày. Núi Mai An Tiêm xưa cách bờ khoảng 180 km, trải qua thời gian dài, phù sa của sông Hồng và sông Đáy đã bồi lắng và hàng năm Nga Sơn lấn ra biển từ 80 đến 100 m, vì thế đảo hoang đã nối với đất liền. Mai An Tiêm là hậu duệ thứ bao nhiêu đó, tuy nhiên ông là người nổi bật đã có công với nước với dân, đã trở thành huyền thoại của dân tộc, vì thế được tôn vinh là thượng thủy Tổ.
    Truyện kể Mai An Tiêm là người từ một nước phía nam, đó là cách nói để xác định ông là Tổ đầu tiên của họ Mai trên đất nước Việt Nam, mặc dù ở phía Bắc cũng có họ Mai nhưng hoàn toàn khác nhau về văn hóa cũng như chữ Mai. Dân tộc Việt nói chung và họ Mai nói riêng đều xuất phát từ phía Nam, dân Đài Loan cũng gần gũi văn hóa với dân Việt và giữ mãi tục ăn trầu. Cho nên điều quan trọng nhất qua truyện Mai An Tiêm là khẳng định tính nội sinh của dòng họ trong lòng dân tộc, đó là điều con cháu đáng tự hào.

    Mai An Tiêm sống thời Hùng Vương thứ 18, triều đại cuối cùng của Văn Lang, triều đại đó có nhiều dấu hiệu suy vong sau thời gian dài thịnh trị, gian thần lộng hành, trung thần thất thế, dẫn tới mất nước vào tay Thục Phán. Là một trung thần, Mai An Tiêm ghét quân nịnh thần, sống bằng năng lực bản thân, không kêu xin cầu lụy ai, vì vậy bị gian thần vu cáo khép tội khinh vua và bị đày ra đảo hoang như chuyện xưa kể lại. Huyền thoại và lịch sử đan xen nhau, ở truyện cổ tích là Mai An Tiêm bị đi đày, trong bài văn tế vua Hùng là Mai An Tiêm ra đảo theo nhiệm vụ, lịch sử đã được nâng lên thành huyền thoại, thần tượng đã được khoác lên chiếc áo vàng theo suy nghĩ của văn học dân gian.

    Nhiều họ nhận thủy tổ mà chẳng lập được phả đồ kết nối, sự đứt đoạn, không liên tục dẫn tới không rõ nguồn gốc do mấy nguyên nhân:
    – Chiến tranh loạn lạc sinh ra biệt tổ ly hương và mất liên lạc với gốc rễ cội nguồn.
    – Phương pháp viết phả xưa không đủ sức viết dài, kỹ thuật in ấn xưa không thể in gia phả và phổ biến rộng khắp trong con cháu, vì vậy mỗi họ chỉ có một cuốn viết tay khá mỏng, chạy loạn hay hỏa hoạn là mất.
    – Tính tự trị gia tộc sinh ra bè phái, khả năng quản lý trong phạm vi hẹp dẫn tới phân chia chi họ sớm, hậu quả là chi họ nào lo phận ấy, không ai lo viết phả chung, một số tiểu chi thời hiện đại cũng đã không rõ nguồn gốc của mình, nói chi đến xa xưa cách nay hơn 2000 năm.
    Dù có không tìm ra các tổ trực hệ của mình, dù gia phả không chắp nối được thì con cháu họ Mai khắp cõi Việt Nam này vẫn luôn tự hào với cội nguồn và truyền thống vẻ vang của gia tộc có bề dày gần 2300 năm, luôn tự hào là hậu duệ của Thượng thủy tổ Mai An Tiêm huyền thoại thường niên được nhắc tới trong văn tế ngày Quốc giỗ.

  23. Mai Quốc Chinh Says:

    Chào các Bác. Em xin đăng tiếp thông tin về Họ Mai – Đào Viên – Quế Võ.
    CÁC NHÀ KHOA BẢNG HỌ MAI XÃ ĐÀO VIÊN- HUYỆN QUẾ VÕ -TỈNH BẮC NINH
    Họ Mai tụ cư chủ yếu từ xưa tới nay ở thôn Trung, xã Đào Viên, huyện Quế Dương, nay thuộc xã Đào Viên, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh (một số tài liệu ghi không chính xác địa danh như sách “Các nhà khoa bảng Việt Nam” có ghi là xã Đào Tai, huyện Quế Dương – nay là thôn Đào Tai, xã Đức Long, huyện Quế Võ).
    Theo sách: Địa lý hành chính Kinh Bắc – của tác giả Nguyễn Văn Huyên thì: “Đào Tai trước đây (thời Lê) thuộc xã Đào Thông, tổng Đào Thông huyện Quế Dương, phủ Từ Sơn, xứ Kinh Bắc. Trong danh sách Đồng Khánh, xã Đào Thông có tên là Đào Hương và ngày nay là Đào Viên. Xã có Sáu thôn là: Đông, Lệ Xá, Lộc Thi, Phúc Tại, Tứ Tư Cương và Trung (làng Cổng).
    Họ Mai là gia tộc có truyền thống khoa bảng tiêu biểu ở vùng quê nơi đây. Nếu tính ở phạm vi huyện Quế Võ (ngày nay) thì họ Mai đứng hang thứ 3 sau họ Nguyễn 18 vị đại khoa, họ Phạm 7 vị đại khoa ở làng Kim Đôi, xã Kim Chân. Gia phả họ Mai ghi như sau:
    – Thủy tổ là ông Ngọc tiên sinh, sau khi mất, mộ được gia tộc an tang ở xứ đồng Mạ Thất, tảo mộ và cúng lễ hang năm vào tiết thanh minh.
    – Sơ tổ Mai tướng công, tự Trọng Bang tiên sinh (1482-1522), thi đỗ khoa Tân Mùi (1511) đời vua Lê Tương Dực, triều Lê (niên hiệu Hồng Thuận thứ 3, trúng Đệ nhị giáp tiến sỹ xuất thân (tức Hoàng Giáp). Làm quan đến chức Hàn lâm viện hiệu lý, năm 1522 bị tử trận.
    – Sơ tổ Quận công Mai Khuyến tiên sinh, thi khoa Ất Mùi (1535-cùng khoa thi trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm) đời Mạc Đăng Doanh, triều Mạc niên hiệu Đại Chính 6, trúng Đệ tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân, từng đi sứ sang nhà Minh. Làm quan đến chức Lễ bộ tả thị lang, phong tặng tước tử.
    – Sơ tổ Mai Công tiên sinh (1530-1593), thi khoa Quý Sửu (1553) đời Mạc Đăng Doanh, triều Mạc niên hiệu Đại Chính, đậu Đệ tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân, phụng mệnh đi sứ. Làm quan tới chức Hình bộ thượng thư, tước An thường hầu. Ông được nhiều tài liệu sử sách (như Đại Việt thong sử) khẳng định: Tướng công là một nho quan cẩn trọng, khoan hậu, khẳng khái, chính nhân quân tử, là thượng thư duy nhất giữ được khí tiết trung quân với Mạc Chủ, không khuất phục Trịnh Tùng.
    – Sơ tổ Mai Đài Công, tự Mẫn Tiết, hiệu là Đạo Nguyên tiên sinh (chi thứ 8) thi trúng Hương thí triều Mạc, chức ứng triều lịch đại phu, sau tặng phong chức Thái bảo quảng kiếm.
    – Sơ tổ Mai Trọng Hòa tướng công (1610-1673), hiệu là Thận, húy là Lý Chính tiên sinh, thi khoa Kỷ Hợi (1659) đời vua Lê Thần Tông niên hiệu Vĩnh Thọ 2, trúng Hoàng Giáp, ban cho đệ nhị giáp chánh tiến sỹ xuất thân, làm quan binh pháp sứ Sơn Tây, sau Ông được bổ nhiệm chức Hiến sát xứ. Ông là cháu nội của tiến sỹ Mai Công (đậu năm 1553), cháu tằng tôn của tiến sỹ Mai Khuyến (đậu năm 1535), cháu xa đời (tứ đại) của Hoàng giáp Mai Bang.
    – Cháu của Tiến sỹ Mai Khuyến là Mai Quý Công, tự là Trọng lãng tiên sinh, làm tri huyện huyện Lương Tài…
    – Từ đó trở đi con cháu trong gia tộc vẫn nối trí cha ông, dốc lòng học tập nhưng sang đến đời Nguyễn việc thi Hội, thi Đình chặt chẽ hơn, số lượng lấy đỗ hạn chế – cả thời Nguyễn Kinh Bắc – Bắc Ninh mới có 33 vị đỗ đại khoa, còn lại là cử nhân tú tài. Do vậy mà họ Mai cũng không có ai đạt được danh hiệu đại khoa.
    Một số tích truyền Miệng:
    – Bà Mai Quý Thị – Từ Hoạt phụ nhân làm vợ quan lớn sinh khoảng năm 1510 đến 1530. Có xây chùa lớn cho một làng tại địa phương, dân ở làng này nói giọng của người xứ Nghệ An – Hà Tĩnh.
    – Cụ Mai Trung Cát làm quan to thế kỷ 18 hoặc 19 có về qua Bắc Ninh có đề nghị Họ lên đón về bái tổ, Tuy nhiên họ nói nếu có Bái Tổ thì tự về chứ Họ không đón. Cụ giận và cắt liên lạc từ đó.

    Trích dẫn sách “Các nhà khoa bảng họ mai”:
    914. Mai Bang (1482 – ? ). Người xã Đào Tai huyện Quế Dương, nay là thôn Đào Viên huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh. Anh của Mai Khuyến, ông nội của Mai Trọng Hòa. 30 tuổi đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất than (Hoàng giáp) khoa Tân Mùi niên hiệu Hồng Thuận 3 (1551) đời Lê Tương Dực.
    1163. Mai Khuyến. Người xã Đào Tai huyện Quế Dương, nay là thôn Đào Viên xã Đào Viên huyện Quế Võ tỉnh Bác Ninh. Em của Mai Bang, cha của Mai Công, cố nội Mai Trọng Hòa. Thi đỗ Đệ tam giáp Tiến sĩ xuất thân khoa Ất Mùi niên hiệu Đại Chính 6 (1535) đời Mạc Đăng Doanh. Được cử đi sứ sang nhà Minh. Làm quan đến chức Lễ bộ Tả thị lang.
    1322. Mai Công (1530 – ? ). Người xã Đào Tai huyện Quế Dương, nay là thôn Đào Viên xã Đào Viên huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh. Con Mai Khuyến, ông nội Mai Trọng Hòa. 24 tuổi đỗ Đẹ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Quý Sửu niên hiệu Cảnh Lịch 6 (1553) đời Mạc Phúc Nguyên. Ông từng được cử đi sứ sang nhà Minh. Làm quan đến chức Thượng thư, tước An Thường hầu.
    1797. Mai Trọng Hòa (1610 – ? ). Người xã Đào Tai huyện Quế Dương, nay là thôn Đào Viên xã Đào Viên huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh. Cháu Mai Công, tằng tôn Mai Khuyến, cháu xa đời của Mai Bang. 50 tuổi đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Kỷ Hợi niên hiệu Vĩnh Thọ 2 (1659) đời Lê Thần Tông. Làm quan đến chức Hiến sứ.

    Bác nào biết thông tin gì về cụ Mai Trung Cát xin thông tin cho em Mai Quốc Chinh theo địa chỉ:
    ĐT: 0914128139
    Email: chinh.idico@gmail.com

  24. Mai Kieu Chinh Says:

    ho. nha` minh` co’ ai ten Mai Kieu Chinh k?

  25. Mai Quang Hà Says:

    cháu là Mai Quang Hà (một chi của dòng họ Mai tại Mai Xá, xã Hiệp Lực, Ninh Giang, Hải Dương), nghe nói cũng là một nhánh của dòng họ Mai tại Thanh Hóa có đúng không?

  26. Vương Says:

    Chú cho cháu hỏi dòng họ Mai Công Khoan xuất xứ, quê quán. Cháu muốn tìm lại cội nguồn của mình. Mong chú giúp dùm cháu. Cám ơn. Liên hệ 0948669095

  27. Vương Says:

    Cháu tên Mai Thanh Vương, 31 tuổi Sôn Tịnh Quảng Ngãi, đời thứ 12 dòng họ Mai. Ông Tổ là Mai Công Khoan, vợ là Bà Dẻ. Vào Quảng Ngãi lập nghiệp, vì gia phả mất nên muốn tìm cội nguồn. Xin các bác tìm giúp dùm cháu. Cám ơn. Liên hệ 0948669590

  28. Mai Hoàng Long Says:

    E là Mai Hoàng Long tri nhà em ở Thanh Trì,Hà Nội.Nhưng sao không thấy dc nhắc đến vậy ạ.ai biết thông tin gì có thể email cho em đến địa chỉ : hoanglong14422@gmail.
    E xin cảm ơn !

  29. Chúc mừng năm mới Says:

    Năm mới 2012, xin kính chúc các gia đình nội ngoại Họ Mai Việt Nam sức khỏe, may mắn và hạnh phúc

  30. Mai Văn Thi Says:

    Chào bác Nhân và các bác trong ban biên tập sách họ MAI VN. Cháu là Mai Văn Thi(0908046288) cháu muốn đăng ký họ MAI VĂN và MAI QUÝ ở Thái Bình để các bác bổ xung vào sách giúp cháu.Thượng tổ là đức Mai công tự Văn Giai sinh vào đầu thế kỷ 16 thuộc dòng dõi Mai Thúc Loan. Phụ thân người là ” Hoàng nông quận công” sinh quán tại xã Hoàng Mai tổng Hoàng Mai huyện Quỳnh Lưu tỉnh Thanh Nghệ.Người có 3 anh em,ông thứ nhất ở lại Thanh Nghệ,ông thứ hai là Mai Quý Công thiên cư đến xã Thạch Đài Thạch Hà Hà Tĩnh.Còn cụ đến đời Lê Trung Tôn năm nhâm tý 1552 cùng gia đình ra Bắc ở Hậu Chu xứ,Đồng Vi tổng,Thái Bình phủ,Nam Định tỉnh tức thôn Bảo Châu xã Đông La huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình.Người có 5 phu nhân sinh được 4 trai và 2 gái.Triều Lê Trịnh tặng đức Văn Giai là”Đặc tiến kiêm tư vinh lộc,đại phu đô chỉ huy xứ,tư đô chí huy xứ,thượng rật tổng binh quan văn lầm hầu Mai tình tự Văn Giai”.Tính đến năm 1976 đã được 424 năm và trải qua 17 đời con cháu.4 ông con trai của cụ đều là: Ông thứ nhất là Thương tướng quân húy Cừ.Ông thứ hai là Đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân triều đông vệ đoàn hầu tư đô chỉ huy xứ an ngỡi hầu Mai công húy Vi hiệu Đức Nhân.Ông thứ ba là Đặc tiến phụ quốc tướng quân trung liệt cẩm y vệ,tư đô chỉ huy sứ rũng lộc hầu Mai Nguyệt Tung tức Gia hiệu Phúc Lâm.Ông thứ tư là Đô chỉ huy sứ khuông lĩnh hầu Mai công húy Tá hiệu Phúc Chính. Còn 2 bà con gái đều là chúa đó là Chính phủ nội thị cung liền Mai Thị Ngọc Thưởng hiệu Quang chân bảo đức. Người em là Mai Thị Ngọc Nho, Vương phi của Trịnh Tùng…

  31. Mai Huân Says:

    Chào bác Mai Trọng Nhân, ở xã An Tràng huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình có 1 chi nhánh họ Mai rất to nhưng cháu không thấy được nhắc đến ở trong này. Nếu có thời gian mong bác tranh thủ tìm hiểu thêm ạ .

    • Dang thanh huong Says:

      Mai xuan Lộc
      Tôi là họ Mai xuân quê gốc ở Hưng Yên, ngày họp họ là ngày 3-3 âm lịch hàng năm,ở đây vào ngày nay mọi ngươi trong họ về rất đông . Nều ai cùng họ Mai thi tìm hiểu thêm nhé.

  32. Mai Thị Hoa Says:

    Cháu rất vui khi họ Mai được biên soạn thành một quyển sách thế này để đến đời chúng cháu biết đến nguồn gốc của mình . Cảm ơn các bác rất nhiều

  33. Mai Bảo Châu Says:

    Tự hào dòng họ Mai

  34. ha Says:

    ho mai o ninh binh dau ma khong dua len

  35. mai cong ton Says:

    có bạn nào biết nguồn ngốc họ MAI CÔNG xuât phát từ khi nào không( hiện tại mình ở NGA SƠN THANH HÓA) co gì bạn lên hệ qua maicongton@gmail.com.vn trao đổi nhé


Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: